Lời NóiWiki
Tìm
Từ cổ trong ca dao

Yếm, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, nón quai thao: trang phục trong ca dao

Yếm, áo tứ thân, khăn mỏ quạ và nón quai thao là trang phục phụ nữ Bắc Bộ xưa, nhắc nhiều trong ca dao như Bắc cầu dải yếm. Bài giải nghĩa từng món và từng câu.

Yếm, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, nón quai thao: trang phục trong ca dao

Yếm, áo tứ thân, khăn mỏ quạ và nón quai thao là bộ trang phục của người phụ nữ đồng bằng Bắc Bộ xưa, và cũng là những món đồ ca dao nhắc nhiều nhất. Yếm là mảnh vải che ngực buộc dây sau lưng; áo tứ thân là áo bốn vạt mặc ngoài yếm; khăn mỏ quạ là khăn vuông đen chít nhọn trước trán; nón quai thao là nón thúng vành rộng có quai tua. Hiểu từng món giúp đọc đúng những câu ca dao tình tứ nhất, như "Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi".

Yếm và dải yếm

Yếm là mảnh vải che ngực của phụ nữ xưa, thường hình vuông hoặc hình thoi, có dây buộc vòng qua cổ và dây buộc ra sau lưng. Yếm mặc trong cùng, bên ngoài là áo cánh hoặc áo tứ thân, nhưng phần cổ yếm vẫn lộ ra ở chỗ áo để mở. Màu yếm cho biết hoàn cảnh: yếm nâu, yếm trắng cho ngày thường, ngày làm đồng; yếm thắm, yếm đào màu đỏ, màu hồng cho ngày hội, ngày vui.

Dải yếm là sợi dây buộc yếm, thường dài, mềm, có khi thả đuôi. Câu ca dao nổi tiếng nhất về yếm:

Ước gì sông rộng một gang,
Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi.

Người con gái ước sông chỉ rộng bằng một gang tay, để có thể lấy dải yếm của mình làm cầu cho người yêu sang. "Gang" là khoảng cách từ đầu ngón tay cái đến đầu ngón tay giữa khi xoè bàn tay, một đơn vị đo dân gian. Hình ảnh vừa tinh nghịch vừa táo bạo, vì dải yếm là vật rất riêng tư. Câu này được dẫn nhiều như một ví dụ về sự chủ động, thẳng thắn của người con gái trong ca dao.

Áo tứ thân, áo năm thân và thắt lưng

Áo tứ thân gồm bốn vạt áo, tức bốn "thân". Hai vạt sau may nối vào nhau dọc sống lưng; hai vạt trước để rời, khi mặc thì buông xuống hoặc buộc thắt vào nhau phía trước bụng. Áo không cài khuy, mặc ngoài yếm, để hở phần ngực có yếm bên trong. Người phụ nữ thắt thêm một dải lưng lụa màu ngang hông, hai đầu buông xuống.

Áo năm thân thêm một vạt nhỏ nằm dưới vạt trước, cài khuy, kín đáo hơn. Đây là kiểu áo được nhiều nhà nghiên cứu xem là tiền thân của áo dài. Sử liệu hay được dẫn là việc chúa Nguyễn Phúc Khoát ở Đàng Trong, giữa thế kỷ 18, ra lệnh thay đổi y phục, được Lê Quý Đôn ghi lại trong Phủ biên tạp lục. Chi tiết cụ thể về kiểu áo trong lệnh ấy thì các nhà nghiên cứu còn bàn.

Ca dao nhắc dải lưng màu xanh trong một khuôn câu rất quen:

Hỡi cô thắt lưng bao xanh,
Có về … với anh thì về.

Chỗ để trống là tên làng, tên vùng: mỗi nơi hát một địa danh khác nhau, rồi kể tiếp đặc sản, cảnh đẹp của nơi ấy để mời cô gái về làm dâu. Đây là ví dụ điển hình của cách ca dao có nhiều dị bản: cùng một khung, mỗi làng điền tên mình vào.

Khăn mỏ quạ, tóc đuôi gà và nón quai thao

Khăn mỏ quạ là chiếc khăn vuông màu đen, gấp chéo thành hình tam giác rồi chít lên đầu, hai mép khăn chụm lại thành một mũi nhọn phía trước trán, trông như mỏ con quạ. Đây là kiểu khăn phổ biến của phụ nữ Bắc Bộ, nhất là vùng Kinh Bắc, đến nay vẫn thấy trong các canh hát quan họ.

Trước khi chít khăn, người phụ nữ thường vấn tóc trong một dải khăn dài. Có người để một lọn tóc thò ra phía sau, gọi là tóc đuôi gà. Bài ca dao "Mười thương" mở đầu bằng chính nét ấy, và có nhiều dị bản. Một bản thường gặp có những câu:

Một thương tóc bỏ đuôi gà,
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
…
Năm thương cổ yếm đeo bùa,
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.

"Cổ yếm đeo bùa" là chiếc bùa nhỏ đeo ở cổ yếm, theo tín ngưỡng xưa để giữ mình. "Nón thượng" là một kiểu nón xưa của phụ nữ, "quai tua" là quai nón có tua rủ xuống. Các bản chép khác nhau ở thứ tự và chữ dùng, nên khi dẫn nên ghi là "một bản thường gặp".

Nón quai thao còn gọi là nón thúng quai thao: nón to, mặt phẳng, vành rộng, thành nón thẳng như miệng thúng. Quai nón làm bằng dây thao, tức sợi tơ se kết tua, thả hai đầu xuống. Nón quai thao gắn với hình ảnh liền chị quan họ Kinh Bắc và các dịp lễ hội.

Váy, quần và chuyện đổi y phục

Phụ nữ Bắc Bộ xưa mặc váy, tức một mảnh vải quấn quanh thân hoặc may thành ống, chứ không mặc quần như hôm nay. Có một bài ca dao hay được dẫn khi nói về chuyện nhà nước phong kiến bắt đổi y phục:

Tháng sáu có chiếu vua ra,
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng.
Không đi thì chợ không đông,
Đi thì phải lột quần chồng sao đang.

"Quần không đáy" là cách gọi đùa chiếc váy. Bài ca dao thường được gắn với lệnh đổi y phục thời Minh Mạng, bắt phụ nữ phía Bắc bỏ váy mặc quần. "Sao đang" là sao nỡ, sao đành; chữ "đang" theo nghĩa nỡ lòng là một từ cổ, nay ít gặp. Giọng bài là giọng than mà buồn cười: phụ nữ không có quần, muốn đi chợ thì phải mượn quần của chồng.

Áo của người đàn ông và áo vá

Người đàn ông xưa ngày thường mặc áo cánh, quần vải nâu; ngày lễ mặc áo dài the, đội khăn xếp hoặc khăn đóng. Ca dao về áo đàn ông thường gắn với chuyện thiếu người vá may:

Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.

"Đường tà" là đường may ở tà áo, tức vạt áo. Câu ca dao là lời ướm hỏi khéo của người con trai: áo rách mà chưa có vợ khâu, ý muốn nhờ cô gái khâu hộ, và xa hơn là muốn cô gái về làm vợ. Bài này có bản dài hơn, kể tiếp chuyện nhờ khâu áo rồi hứa trả công.

Kho tục ngữ cũng có nhiều câu về chuyện mặc:

  • Ăn lấy chắc, mặc lấy bền. Người nghèo chọn cái mặc bền hơn cái mặc đẹp.
  • Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân. Trang phục góp phần làm nên vẻ đẹp.
  • Áo mặc sao qua khỏi đầu. Con cháu không thể vượt quyền người trên, như áo không thể mặc cao quá đầu.

Bảng tra nhanh

TừLà gìAi dùng
Yếm, dải yếmMảnh vải che ngực, dây buộc yếmPhụ nữ
Áo tứ thânÁo bốn vạt, không khuy, mặc ngoài yếmPhụ nữ Bắc Bộ
Áo năm thânÁo có thêm vạt con, cài khuyNam và nữ, tiền thân áo dài
Thắt lưng, dải lưngDải lụa thắt ngang hôngPhụ nữ
Khăn mỏ quạKhăn vuông đen chít nhọn trước tránPhụ nữ Bắc Bộ
Nón quai thaoNón thúng vành rộng, quai tua bằng sợi thaoPhụ nữ, nhất là Kinh Bắc
Đường tàĐường may ở vạt áoChung
Khăn xếp, áo theKhăn quấn sẵn thành vành, áo dài vải theĐàn ông ngày lễ

Góc nhìn hôm nay

Ngày nay áo tứ thân, khăn mỏ quạ, nón quai thao vẫn sống trong các canh hát quan họ, lễ hội và các buổi biểu diễn dân ca. Yếm thì trở lại trong thời trang dưới dạng cách điệu. Hiểu ý nghĩa từng món đồ giúp người xem hội không chỉ thấy đẹp mà còn nhận ra những câu ca dao đứng sau chúng.

Ai muốn thấy hiện vật có thể ghé Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam ở Hà Nội, nơi trưng bày trang phục truyền thống. Mùa hội Lim ở Bắc Ninh, đầu xuân, là dịp xem liền anh liền chị quan họ trong áo tứ thân, khăn mỏ quạ, nón quai thao, và nghe những câu ca dao xưa được hát lên.

Câu hỏi thường gặp

Yếm là gì?

Yếm là mảnh vải che ngực của phụ nữ xưa, hình vuông hoặc hình thoi, có dây buộc qua cổ và sau lưng. Yếm mặc trong cùng, bên ngoài là áo cánh hoặc áo tứ thân. Màu yếm thay đổi theo dịp: nâu, trắng ngày thường; thắm, đào ngày hội.

Bắc cầu dải yếm nghĩa là gì?

Câu ca dao "Ước gì sông rộng một gang, bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi" là lời người con gái ước sông hẹp lại để lấy dây buộc yếm của mình làm cầu cho người yêu sang. Hình ảnh thể hiện tình cảm táo bạo, chủ động.

Áo tứ thân khác áo năm thân thế nào?

Áo tứ thân có bốn vạt, không khuy, hai vạt trước buông hoặc buộc thắt. Áo năm thân có thêm một vạt nhỏ dưới vạt trước và cài khuy, kín đáo hơn. Áo năm thân thường được xem là tiền thân của áo dài.

Khăn mỏ quạ là gì?

Khăn mỏ quạ là khăn vuông màu đen, gấp chéo rồi chít lên đầu sao cho hai mép chụm thành mũi nhọn trước trán, trông như mỏ con quạ. Đây là kiểu khăn quen thuộc của phụ nữ Bắc Bộ, nhất là vùng Kinh Bắc.

Nón quai thao là nón gì?

Nón quai thao, còn gọi là nón thúng quai thao, là nón to, mặt phẳng, vành rộng, thành nón thẳng như miệng thúng. Quai nón làm bằng dây thao kết tua. Nón gắn với liền chị quan họ Kinh Bắc.

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói

Bài viết liên quan

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói Xem app khác