Vè là thể loại văn vần dân gian dùng để kể chuyện: kể một sự việc vừa xảy ra trong làng, một biến cố lịch sử, một nhân vật, hay điểm mặt các loài vật, cây trái. Khác với ca dao thiên về bày tỏ tình cảm, vè thiên về tự sự và thời sự; câu vè thường ngắn, bốn hoặc năm chữ, vần liền, đọc nhanh như nói. Người làng gọi là "nói vè", "kể vè", và người giỏi đặt vè từng là "nhà báo" của làng quê xưa.
Vè khác ca dao ở đâu
Cả vè và ca dao đều là văn vần truyền miệng, không rõ tác giả. Nhưng chúng làm hai việc khác nhau.
| Ca dao | Vè | |
|---|---|---|
| Mục đích | Bày tỏ tình cảm, nỗi lòng | Kể việc, thuật chuyện, bình phẩm |
| Độ dài | Thường 2–4 câu | Có bài rất dài, hàng chục đến hàng trăm câu |
| Thể thơ | Chủ yếu lục bát | Hay dùng câu bốn chữ, năm chữ; cũng có vè lục bát |
| Cách trình bày | Hát, ru, ngâm | Nói, kể, đọc theo nhịp |
| Gắn với thời gian | Ít khi chỉ rõ thời điểm | Thường gắn với một sự việc cụ thể, có khi đoán được năm |
Vì gắn với sự việc cụ thể, vè thường có tên: vè kể về một trận lụt, một vụ án trong làng, một nhân vật. Ca dao hiếm khi có tên riêng như vậy.
Hình thức của vè
Câu ngắn, vần liền
Kiểu vè phổ biến nhất dùng câu bốn chữ, cứ hai câu một vần, hoặc vần nối tiếp nhau như chuỗi. Nhịp nhanh, gần với nói hơn là hát. Người nghe theo được câu chuyện dễ dàng, người kể nhớ được bài dài nhờ vần dẫn câu này sang câu khác.
Công thức mở đầu
Nhiều bài vè mở bằng công thức quen: "Vè vẻ vè ve", rồi giới thiệu ngay sẽ kể chuyện gì. Có bài mở bằng lời gọi người nghe, như kiểu "bà con nghe vè". Công thức này báo cho người nghe rằng sắp tới là một câu chuyện, không phải một câu hát tình.
Lục bát và các thể dài
Vè lịch sử, vè kể chuyện dài thường dùng lục bát hoặc song thất lục bát để kể cho trơn. Lúc này ranh giới giữa vè và truyện thơ dân gian khá mờ. Giới nghiên cứu xếp loại cũng không hoàn toàn thống nhất.
Các loại vè
Vè thế sự, vè thời sự làng
Đây là loại vè "sống" nhất trong làng xã xưa. Trong làng có chuyện gì lạ: một người keo kiệt, một vụ cãi nhau, một kẻ ăn cắp, một ông lý tham, thì sớm muộn sẽ có người đặt vè. Bài vè được truyền miệng khắp làng, có khi sang cả làng bên. Bị "đặt vè" là một hình phạt bằng dư luận, nhiều khi đáng sợ hơn bị phạt vạ. Chính vì thế, nhiều bài vè thế sự chỉ sống được vài năm rồi mất theo sự việc, ít được ghi lại.
Vè lịch sử
Vè cũng kể những biến cố lớn, theo cách nhìn của người dân. Hai ví dụ hay được nhắc:
- Vè chàng Lía (Bình Định): kể chuyện Lía, một nhân vật hảo hán vùng Truông Mây cướp của nhà giàu chia cho người nghèo, chống lại quan lại. Lía là nhân vật nửa thực nửa truyền thuyết, không nên đọc bài vè như sử liệu. Câu ca dao "Chiều chiều én liệng Truông Mây / Cảm thương chú Lía bị vây trong thành" cũng thuộc vòng chuyện kể này.
- Vè thất thủ kinh đô: kể biến cố kinh thành Huế thất thủ năm 1885 dưới cái nhìn và nỗi đau của người dân Huế. Bài vè giúp hiểu tâm trạng dân chúng lúc đó, nhưng các chi tiết cụ thể cần đối chiếu với sử liệu.
Vè lịch sử có giá trị như tiếng nói của người thường về thời cuộc. Nhưng vè được người dân đặt ra và sửa dần qua truyền miệng, nên số người, ngày tháng, lời nhân vật trong vè không thể coi là chính xác.
Vè con vật, vè cây trái
Đây là loại vè quen thuộc với trẻ con. Bài vè điểm mặt từng loài: mỗi loài vài câu, nêu một nét hình dáng hay tính nết, có khi gán tính cách con người cho con vật. Cách liệt kê đó giúp trẻ nhớ tên và đặc điểm của các loài quanh nhà. Để thấy cấu trúc, có thể xem hai câu sau, là câu tự đặt để minh hoạ, không phải vè dân gian:
Mỏ dài chân cao,
Lội ruộng lội ao.
(câu tự đặt để minh hoạ)
Vè dân gian thật về các loài vật, cây trái có nhiều bản khác nhau theo vùng, nhất là ở Nam Bộ với các bài vè kể tên trái cây, cá tôm miệt vườn. Muốn đọc bản thật, nên tìm trong các tuyển tập vè địa phương có ghi rõ nơi sưu tầm.
Vè trào phúng
Nhiều bài vè kể chuyện để chế giễu. Tiếng cười trong văn học dân gian là đề tài riêng của một wiki khác trong hệ, ở đây chỉ cần biết: chế giễu là một chức năng quan trọng của vè, và vè thế sự thường mang giọng mỉa mai.
Người nói vè
Trong làng xưa, không phải ai cũng đặt được vè. Thường có vài người nổi tiếng nhanh miệng, thuộc nhiều, có tài ứng biến, được cả làng biết đến. Họ có thể là người làm ruộng bình thường, không cần biết chữ. Ở một số vùng, người hát rong, người mù đi kể chuyện ở chợ cũng mang vè theo, đọc cho người qua đường nghe.
Từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, chữ quốc ngữ và nghề in phát triển ở Nam Kỳ, nhiều bài vè, thơ dân gian được in thành những tập mỏng bán ở chợ. Vè lúc này bắt đầu có bản in, và cũng bắt đầu có người đứng tên soạn lại. Ranh giới giữa vè dân gian và vè có tác giả từ đây càng khó xác định.
Vì sao vè ít được biết đến hơn ca dao
- Gắn với sự việc cụ thể: khi sự việc qua đi, người nghe không còn hiểu ai là ai, bài vè cũng mất theo.
- Có tính chế giễu cá nhân: nhiều bài nhắm vào người thật trong làng, người sưu tầm ngại ghi lại, gia đình bị nói đến cũng muốn quên đi.
- Dài: bài vè lịch sử dài khó nhớ trọn, mỗi người nhớ một đoạn, bản ghi thường thiếu.
- Ít "đẹp": vè thiên về kể và mỉa, không nhiều hình ảnh trữ tình, nên ít được chọn vào sách giáo khoa hay tuyển tập phổ thông.
Tuy vậy, với nhà nghiên cứu lịch sử xã hội, vè là nguồn quý: nó cho biết người dân xưa nghĩ gì về quan lại, về thiên tai, về các biến cố, những điều sách chính sử ít ghi.
Góc nhìn hôm nay: tìm và đọc vè
- Tuyển tập vè địa phương: nhiều tỉnh đã in sách văn học dân gian của tỉnh mình, trong đó có phần vè. Bình Định, xứ Nghệ, xứ Huế và Nam Bộ là những vùng có vè phong phú.
- Đọc vè lịch sử song song với sử liệu: đọc bài vè về một biến cố rồi tra lại trong sách sử, sẽ thấy rõ chỗ nào là cảm xúc người dân, chỗ nào là sự kiện.
- Hỏi người cao tuổi: vè thế sự làng là loại dễ mất nhất. Những bài vè về chuyện làng mình, nếu còn người nhớ, rất đáng ghi lại kèm hoàn cảnh ra đời.
- Đọc vè con vật cùng trẻ nhỏ: nhịp bốn chữ dễ thuộc, giúp trẻ nhớ tên con vật, cây trái quanh mình.
Câu hỏi thường gặp
Vè là gì?
Vè là thể loại văn vần dân gian dùng để kể chuyện, thuật lại sự việc hoặc bình phẩm người, việc. Câu vè thường ngắn, bốn hoặc năm chữ, vần liền, được nói hoặc kể theo nhịp chứ ít khi hát. Vè có vè thế sự, vè lịch sử, vè con vật, vè trào phúng.
Vè khác ca dao thế nào?
Ca dao chủ yếu bày tỏ tình cảm, ngắn, thường lục bát và được hát, ru. Vè chủ yếu kể việc, có bài rất dài, hay dùng câu bốn chữ và được nói, kể. Vè thường gắn với một sự việc cụ thể, ca dao thì ít khi.
"Vè vẻ vè ve" là gì?
Đó là công thức mở đầu quen thuộc của nhiều bài vè. Nghe câu này, người nghe biết ngay sắp tới là một bài vè kể chuyện. Sau công thức này, người kể thường giới thiệu sẽ kể về ai hay chuyện gì.
Vè lịch sử có đáng tin không?
Vè lịch sử phản ánh cách người dân cảm nhận một biến cố, nên có giá trị về tâm trạng và cách nhìn. Nhưng vè được truyền miệng và sửa dần, số liệu, ngày tháng, lời nhân vật trong vè không chính xác. Muốn biết sự kiện cần đối chiếu với sử liệu.
Ai là người đặt vè?
Phần lớn vè không rõ tác giả. Trong làng xưa thường có vài người nhanh miệng, giỏi ứng biến chuyên đặt vè về chuyện làng. Vè được truyền miệng và sửa đổi qua nhiều người nên trở thành sáng tác chung.