Lời NóiWiki
Tìm
Ca dao, tục ngữ & sưu tập

Ca dao cổ và câu thơ có tác giả: phân biệt thế nào cho đúng

Ca dao không rõ tác giả, có dị bản; câu thơ của Nguyễn Du, Tản Đà, Nguyễn Bính dù được thuộc như ca dao vẫn có tác giả. Tra tuyển tập và xét dị bản để phân biệt.

Ca dao cổ và câu thơ có tác giả: phân biệt thế nào cho đúng

Ca dao cổ là lời thơ dân gian không rõ tác giả, đã truyền miệng qua nhiều đời và có dị bản; còn câu có tác giả là thơ của một người cụ thể, dù đã được dân gian thuộc lòng như ca dao. Hai loại này hay bị lẫn vì nhiều nhà thơ viết lục bát theo giọng dân gian, và ngược lại có câu thơ của tác giả nổi tiếng đi vào lời ăn tiếng nói đến mức người ta quên mất ai viết. Phân biệt được cần ba việc: tra tuyển tập, tìm dấu vết của một ngòi bút cá nhân, và xét xem câu có dị bản không.

Vì sao hay lẫn

Lục bát là thể thơ của cả dân gian lẫn văn học viết. Từ Truyện Kiều của Nguyễn Du đến thơ Tản Đà, Nguyễn Bính, rất nhiều tác giả viết lục bát mộc mạc, dùng hình ảnh làng quê, giọng tâm tình. Khi những câu thơ ấy được hát, được ru, được dẫn trong lời nói, tên tác giả dần rơi mất. Chiều ngược lại, có người thấy một câu ca dao hay quá và đoán nó phải của một nhà thơ nào đó, rồi lời đoán ấy được truyền đi như thật.

Luật chung trên wiki này: không gán tác giả cho ca dao khi không có nguồn; câu chưa rõ thì viết "thường được xem là ca dao".

Những câu có tác giả hay bị tưởng là ca dao

Câu Kiều đi vào lời nói hằng ngày

Truyện Kiều của Nguyễn Du dài 3.254 câu lục bát. Rất nhiều câu đã thành như tục ngữ, người dẫn không nghĩ đến nguồn:

Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Những câu này có tác giả rõ ràng, có văn bản chép tay và bản in từ thế kỷ 19. Dẫn chúng như "ông bà ta nói" là không chính xác, dù ý nghĩa đã thành của chung.

Thơ Tản Đà được hát như dân ca

Nước non nặng một lời thề,
Nước đi đi mãi không về cùng non.
(Tản Đà, Thề non nước)

Bài thơ của Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu) mang giọng ca dao rất đậm, lại được hát ngâm rộng rãi, nên có người tưởng là lời dân gian. Đây là thơ có tác giả, viết đầu thế kỷ 20.

Nguyễn Bính và "chất ca dao"

Hoa chanh nở giữa vườn chanh,
Thầy u mình với chúng mình chân quê.
(Nguyễn Bính, Chân quê)

Thơ Nguyễn Bính mượn rất nhiều cách nói của ca dao: hình ảnh vườn chanh, giàn trầu, yếm lụa, câu so sánh "mình – ta". Nhưng giọng thơ mang một nỗi riêng của con người thời ông, không phải giọng chung của cộng đồng. Chuyện chất ca dao trong thơ Nguyễn Bính được bàn kỹ ở danh mục ca dao tình yêu.

Hồ Xuân Hương mượn mô típ dân gian

Bài thơ Nôm "Bánh trôi nước", được truyền tụng là của Hồ Xuân Hương, mở bằng "Thân em vừa trắng lại vừa tròn". Câu này mượn đúng công thức "Thân em" của ca dao than thân. Nhưng toàn bài là thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, một thể thơ bác học, với lối nói hai nghĩa rất riêng. Đây là ví dụ tác giả mượn khuôn dân gian, chứ không phải ca dao.

Chiều ngược lại: ca dao giống thơ có tác giả

Bài ca dao quen thuộc trong sách giáo khoa:

Cày đồng đang buổi ban trưa,
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Ai ơi bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.

Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra ý bài này rất gần với bài thơ "Mẫn nông" (Thương người làm ruộng) của Lý Thân đời Đường: người cày dưới nắng trưa, mồ hôi rơi xuống đất, ai biết cơm trong mâm hạt nào cũng cay đắng. Bài ca dao có phải chuyển dịch từ thơ Lý Thân, hay hai bên gặp nhau vì cùng cảnh nhà nông, vẫn còn được bàn. Cách nói an toàn: bài này được xếp vào ca dao trong các tuyển tập, và có nét tương đồng rõ với một bài thơ Đường.

Ca dao không nhất thiết "cổ"

Chữ "ca dao cổ" dễ khiến người ta nghĩ mọi câu ca dao đều có từ nghìn năm trước. Thực ra nhiều câu có thể đoán được niên đại nhờ những gì chúng nhắc đến:

Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ,
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn.
Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn,
Hỏi ai gây dựng nên non nước này?

Tháp Bút và Đài Nghiên bên hồ Hoàn Kiếm được dựng vào khoảng giữa thế kỷ 19, trong đợt tu sửa quần thể đền Ngọc Sơn gắn với Nguyễn Văn Siêu. Vậy bài ca dao này, ít nhất ở dạng ta biết, ra đời sau đó. Nó vẫn là ca dao, vì không rõ người đặt và được truyền miệng, nhưng không "cổ" như nhiều người nghĩ.

Câu "Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa / Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh" cũng chứa địa danh cụ thể có thể dùng để đoán khung thời gian, dù không chính xác như trường hợp trên.

Năm dấu hiệu để phân biệt

Dấu hiệuNghiêng về ca daoNghiêng về câu có tác giả
Có trong tuyển tập ca dao lớnCó, kèm dị bảnKhông, hoặc có chú thích tác giả
Dị bảnNhiều bản theo vùngMột bản ổn định, khớp văn bản in
Ngôn ngữMộc mạc, công thức quen ("Thân em", "Ai về")Điển cố bác học, từ Hán Việt dày, cách nói riêng
Cảm xúcTình cảm chung của một cộng đồngNỗi riêng, dấu ấn cá nhân của một con người cụ thể
Nguồn xuất hiện sớm nhấtTập sưu tầm, lời kể dân gianBáo, tập thơ, truyện thơ có ngày in

Không dấu hiệu nào đủ một mình. Có ca dao rất bác học (lời hát của nho sĩ được dân gian hoá), có thơ tác giả rất mộc mạc. Phải xét nhiều dấu hiệu cùng lúc, và quan trọng nhất vẫn là nguồn in.

Ca dao có thể từng có tác giả

Về nguyên tắc, câu ca dao nào cũng do một ai đó đặt ra lần đầu. Có thể là một cô gái hát giỏi ở hội làng, một nho sĩ thất thế, một người chèo đò. Điều làm nó thành ca dao không phải là "không có ai viết", mà là quá trình sau đó: được nhiều người hát lại, sửa đi, đến mức thành của chung và tên người đặt bị quên. Vì vậy, nói "ca dao là sáng tác tập thể" không có nghĩa là cả làng ngồi cùng nhau đặt câu, mà là cả cộng đồng tham gia mài giũa qua nhiều thế hệ.

Ngược lại, khi một câu đã có văn bản in, có tên tác giả, thì dù dân gian thuộc lòng, nó vẫn là thơ có tác giả. Truyền miệng không xoá được quyền tác giả.

Góc nhìn hôm nay: trích dẫn cho đúng

  • Khi chắc là thơ có tác giả: ghi tên tác giả và tác phẩm, chỉ trích ngắn.
  • Khi chắc là ca dao: ghi "ca dao", không thêm tên người, nếu biết thì ghi bản chép từ tuyển tập nào.
  • Khi chưa chắc: viết "thường được xem là ca dao" hoặc "có nguồn cho là của…". Đừng tự quyết.
  • Tìm hiểu thêm: đọc Truyện Kiều bản có chú giải để nhận ra những câu đã thành "tục ngữ"; đọc thơ Tản Đà, Nguyễn Bính cạnh một tuyển tập ca dao để cảm được chỗ giống và khác giữa giọng chung và giọng riêng.

Câu hỏi thường gặp

Làm sao biết một câu là ca dao hay thơ có tác giả?

Tra trong các tuyển tập ca dao lớn và xem câu có dị bản không. Câu có một bản ổn định, khớp với một tập thơ in, có điển cố hay giọng riêng của một người thì thường là thơ có tác giả. Không chắc thì nên ghi "thường được xem là ca dao".

"Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài" là ca dao hay của ai?

Đây là câu trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, nằm ở đoạn kết tác phẩm, đi cùng câu "Thiện căn ở tại lòng ta". Câu đã được dẫn rộng rãi như tục ngữ nhưng có tác giả rõ ràng.

"Nước non nặng một lời thề" có phải ca dao không?

Không. Đây là câu mở đầu bài "Thề non nước" của Tản Đà. Bài thơ có giọng ca dao đậm và được ngâm hát nhiều nên hay bị tưởng là lời dân gian.

Ca dao có phải đều có từ rất xưa không?

Không hẳn. Nhiều câu ca dao nhắc đến công trình, địa danh có niên đại, nhờ đó có thể đoán chúng ra đời muộn. Bài "Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ" nhắc Tháp Bút, Đài Nghiên dựng giữa thế kỷ 19, nên ở dạng hiện biết nó ra đời sau mốc ấy.

Có nên gán tác giả cho ca dao theo lời kể dân gian không?

Không nên khi không có nguồn. Nhiều câu ca dao được truyền thuyết gán cho một nhân vật nổi tiếng nhưng không có văn bản nào chứng minh. Gặp trường hợp đó, chỉ nên nói "tương truyền", không khẳng định.

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói

Bài viết liên quan

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói Xem app khác