Lời NóiWiki
Tìm
Từ cổ trong ca dao

Nong, nia, thúng, mủng, quang gánh: đồ dùng tre trong ca dao

Nong, nia là đồ đan phẳng để phơi, sảy; thúng, mủng sâu lòng để đựng, để gánh; quang là dây treo đòn gánh. Hiểu từng món để đọc đúng lọt sàng xuống nia, rổ rá cạp lại.

Nong, nia, thúng, mủng, quang gánh: đồ dùng tre trong ca dao

Nong, nia, thúng, mủng, rổ, rá, sàng, giần và quang gánh là những đồ đan bằng tre, nứa trong nhà nông xưa, khác nhau ở kích cỡ, độ sâu lòng và độ dày mắt đan. Nong và nia là đồ phẳng, lòng nông, dùng để phơi, sảy; thúng và mủng là đồ sâu lòng để đựng, để gánh; quang là bộ dây treo hai đầu đòn gánh. Ca dao, tục ngữ nhắc đến chúng tự nhiên như nhắc chuyện hằng ngày, nên muốn hiểu những câu như "lọt sàng xuống nia" hay "rổ rá cạp lại" thì phải biết từng món.

Đồ phẳng lòng nông: nong, nia, sàng, giần

Nhóm này đều hình tròn, đan khít hoặc thưa, lòng rất nông, dùng để trải, phơi, lắc, sảy:

  • Nong: to nhất, đường kính có thể tới hơn một mét rưỡi, đan khít. Dùng để phơi thóc, phơi lạc, phơi đỗ, và đặc biệt để nuôi tằm. "Nong tằm" là cái nong rải lá dâu cho tằm ăn.
  • Nia: nhỏ hơn nong, đan khít. Dùng để sảy thóc gạo: hất nhẹ lên xuống cho trấu, bụi bay ra ngoài. Nia cũng dùng để phơi, để bày bánh, bày rau.
  • Sàng: cỡ như nia nhưng đan thưa, có mắt lỗ. Dùng để sàng gạo: lắc tròn cho tấm và cám lọt xuống, gạo ở lại.
  • Giần: giống sàng nhưng mắt nhỏ hơn. Dùng để giần lấy cám mịn, tách tấm nhỏ.

Từ những món này mà tiếng Việt có một loạt động từ: phơi, sảy, sàng, giần. Mỗi động từ gắn với một món đồ và một động tác riêng của đôi tay người phụ nữ.

Thành ngữ quen nhất của nhóm này là lọt sàng xuống nia. Gạo lọt qua mắt sàng thì rơi xuống cái nia đặt bên dưới, không mất đi đâu cả. Câu nói của cải, lợi ích tưởng mất nhưng vẫn còn trong nhà, trong họ, trong nhóm của mình. Thường dùng khi việc gì đó chuyển từ người này sang người kia trong cùng một gia đình.

Đồ sâu lòng: thúng, mủng, rổ, rá

Nhóm này có thành cao, dùng để đựng:

  • Thúng: đan dày, lòng sâu, miệng tròn, thường được trát thêm sơn hoặc dầu để kín. Dùng để đựng thóc, gạo, ngô, khoai, và để gánh đi chợ.
  • Mủng: giống thúng nhưng nhỏ hơn, nông hơn. "Thúng mủng" là từ ghép chỉ chung các đồ đựng loại này.
  • Rổ: mắt đan thưa, để đựng rau, củ, để ráo nước.
  • Rá: mắt đan dày, nhỏ hơn rổ, dùng để vo gạo, đựng gạo đã vo.

Thành ngữ rổ rá cạp lại lấy từ việc sửa đồ cũ. "Cạp" là viền lại miệng rổ, miệng rá bằng một vành tre mới khi vành cũ đã bung. Rổ rá cạp lại là đồ cũ sửa để dùng tiếp. Thành ngữ dùng để nói đôi vợ chồng mà cả hai đều đã từng có gia đình trước, nay về với nhau. Câu mang giọng đùa, có khi hơi trêu, nên cần dùng cẩn thận.

Quang gánh và đòn gánh

Đòn gánh là đoạn tre dài, dẹt, hai đầu có mấu để giữ dây. Quang là bộ dây treo, làm bằng mây, tre hay dây thừng, một đầu móc vào đòn gánh, đầu kia đỡ lấy thúng, mủng hoặc sọt. Một gánh gồm đòn gánh, hai bộ quang và hai thứ đồ ở hai đầu. Người gánh đặt đòn lên vai, đi theo nhịp để gánh nhún nhảy đều, đỡ mỏi.

Hình ảnh người phụ nữ gánh hàng là một trong những hình ảnh quen nhất của ca dao:

Cái cò lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.

Hình ảnh con cò ở đây là người vợ, và cái gánh gạo là gánh nặng nuôi chồng đi học, đi thi hay đi lính xa. Chữ "gánh" vừa là động tác thật vừa là gánh nặng đời người.

Ca dao Nam Bộ có câu than rất mạnh về sự cực nhọc:

Gánh cực mà đổ lên non,
Còng lưng mà chạy cực còn theo sau.

Người nói muốn gánh cái khổ đem đổ lên núi cho xong, nhưng còng lưng chạy rồi mà cái khổ vẫn bám theo. "Gánh" đã thành một động từ trừu tượng: gánh cực, gánh nợ, gánh vác.

Đồ trong bếp: chạn, nồi, vung, chum vại

Gian bếp xưa cũng để lại nhiều từ trong tục ngữ:

  • Chạn: tủ đựng bát đĩa, thường bằng tre hoặc gỗ, có mắt thưa cho thoáng. Chuột hay leo chạn ăn vụng, nên người xưa mới có lối nói ném chuột sợ vỡ đồ, dịch từ thành ngữ Hán đầu thử kỵ khí: muốn ném con chuột cũng phải e bát đĩa bên cạnh. Ý nói muốn trị kẻ xấu cũng phải nghĩ tới những người, những thứ liên quan quanh nó.
  • Nồi, vung: vung là nắp nồi. Tục ngữ Nồi nào úp vung nấy nói người nào thì đi với người ấy, thường dùng để nói vợ chồng hợp nhau, có khi với ý trêu.
  • Chum, vại: đồ gốm lớn đựng nước, đựng tương, muối dưa. Chum to, bụng phình; vại thẳng thành hơn.
  • Bát: tiếng Bắc là bát, tiếng Nam là chén. Câu Ăn cháo đá bát chê kẻ vô ơn: vừa ăn xong đã đá cái bát mình vừa ăn.

Đồ bắt cá: đó, hom, lờ, nơm

Người làng ven sông, ven ruộng có thêm cả bộ đồ đan để bắt cá:

  • Đó và lờ: ống đan dài đặt chìm dưới nước, cá chui vào không ra được.
  • Hom: cái phễu đan đặt ở miệng đó, lờ; nan nhọn chĩa vào trong, cá vào dễ, ra khó.
  • Nơm: lồng đan hình chuông, úp xuống chỗ nước nông để chụp cá.

Tục ngữ Chồng như đó, vợ như hom lấy đúng cấu tạo ấy: cái đó cần cái hom mới giữ được cá. Người chồng kiếm được của, người vợ giữ cho của khỏi lọt ra. Câu đề cao vai trò người vợ trong việc giữ nhà.

Bảng tra nhanh

ĐồHình dángDùng đểCâu có mặt
NongPhẳng, rất to, đan khítPhơi, nuôi tằmnong tằm
NiaPhẳng, nhỏ hơn nongSảy, phơiLọt sàng xuống nia
SàngPhẳng, mắt thưaSàng gạoĐi một ngày đàng học một sàng khôn
ThúngSâu lòng, đan dàyĐựng, gánhthúng mủng
Rổ, ráSâu lòng; rổ thưa, rá dàyĐựng rau; vo gạoRổ rá cạp lại
Quang, đòn gánhDây treo, đòn treGánh hàngGánh gạo đưa chồng
ChạnTủ tre, gỗĐựng bát đĩaNém chuột sợ vỡ đồ
Đó, homỐng đan, phễu đanBắt cáChồng như đó, vợ như hom

Góc nhìn hôm nay

Ở nhiều vùng quê, nong, nia, rổ rá vẫn còn được dùng, dù nhựa và kim loại đã thay thế phần lớn. Các làng nghề đan lát ở đồng bằng Bắc Bộ, như làng mây tre đan Phú Vinh ở ngoại thành Hà Nội, vẫn giữ nghề, làm cả đồ dùng lẫn đồ trang trí.

Với người đọc ca dao, việc biết phân biệt nong với nia, rổ với rá không chỉ là chuyện từ vựng. Nó giúp hiểu đúng những câu nói còn dùng hằng ngày, và thấy được bàn tay khéo léo của người nông dân xưa, những người biến cây tre thành cả một bộ đồ nghề cho cuộc sống. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ở Hà Nội có trưng bày nhiều đồ đan tre của các dân tộc, là nơi tốt để dẫn trẻ em đến xem tận mắt.

Câu hỏi thường gặp

Nong và nia khác nhau thế nào?

Cả hai đều là đồ đan tre hình tròn, phẳng, lòng nông. Nong to hơn nhiều, dùng để phơi thóc và nuôi tằm. Nia nhỏ hơn, thường dùng để sảy thóc gạo cho bay trấu, bụi.

Thúng và mủng khác nhau thế nào?

Thúng và mủng đều là đồ đan tre sâu lòng để đựng. Thúng to và sâu hơn, dùng để đựng thóc gạo và gánh đi chợ. Mủng nhỏ hơn, nông hơn. "Thúng mủng" là từ ghép chỉ chung loại đồ đựng này.

Lọt sàng xuống nia nghĩa là gì?

Gạo lọt qua mắt sàng thì rơi xuống cái nia bên dưới, không mất đi đâu. Thành ngữ nói của cải, lợi ích chuyển từ người này sang người khác nhưng vẫn ở trong nhà, trong nhóm của mình.

Rổ rá cạp lại nghĩa là gì?

"Cạp" là viền lại miệng rổ, rá đã bung. Rổ rá cạp lại là đồ cũ sửa để dùng tiếp. Thành ngữ dùng để nói đôi vợ chồng mà cả hai đều từng có gia đình trước, mang giọng đùa nên cần dùng cẩn thận.

Quang gánh là gì?

Quang là bộ dây treo bằng mây, tre hay dây thừng, móc vào hai đầu đòn gánh để đỡ thúng, mủng. Quang gánh là cả bộ đồ gánh hàng: đòn gánh, quang và hai đầu đồ đựng. Đây là phương tiện chở hàng quen thuộc của người phụ nữ nông thôn xưa.

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói

Bài viết liên quan

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói Xem app khác