Lời NóiWiki
Tìm
Từ cổ trong ca dao

Đò, ghe, bến, sào: từ ngữ sông nước trong ca dao Việt

Đò chở người qua sông, ghe là thuyền ở miền Trung và Nam Bộ, bến là chỗ thuyền đậu, sào là cây tre đẩy thuyền. Từ đó ca dao dựng hình ảnh thuyền – bến, chờ đợi, chia ly.

Đò, ghe, bến, sào: từ ngữ sông nước trong ca dao Việt

Đò, ghe, bến, sào là bộ từ sông nước quen nhất trong ca dao. Đò là thuyền nhỏ chở người qua sông hoặc theo dòng; ghe là cách gọi thuyền ở miền Trung và Nam Bộ; bến là chỗ thuyền đậu, người lên xuống; sào là cây tre dài cắm xuống đáy để đẩy thuyền đi. Từ những vật cụ thể ấy, ca dao dựng nên cả một hệ hình ảnh về chờ đợi, chia ly và thân phận, như "Thuyền về có nhớ bến chăng".

Đò ngang, đò dọc và những loại thuyền

Đò ngang chở người, hàng qua sông, từ bờ này sang bờ kia. Đò dọc đi theo dòng sông, chở khách đường dài từ bến này đến bến khác. Ở làng quê xưa không có cầu, đò ngang là cách duy nhất để qua sông, nên người chèo đò là người cả làng phải nhờ.

Bồng bồng mẹ bế con sang,
Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo.
Muốn sang thì bắc cầu kiều,
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.

Bài ca dao dùng chuyện qua sông để nói chuyện học: đò không đi được thì phải bắc cầu; muốn con học giỏi thì phải quý thầy. "Cầu kiều" là cây cầu cao, cong.

Tiếng Việt có nhiều tên gọi thuyền theo vùng và theo kích cỡ:

TừNghĩaVùng thường dùng
ThuyềnTên chung, dùng mọi nơi, nhất là trong văn chươngKhắp nơi
ĐòThuyền nhỏ chở khách qua sông hoặc theo dòngKhắp nơi, đậm ở Bắc và Trung
GheThuyền nói chung, nhiều cỡTrung Bộ, Nam Bộ
XuồngThuyền nhỏ, nhẹ, đi kênh rạchNam Bộ
NốcThuyềnXứ Nghệ, Bình Trị Thiên
Bè, mảngTre, gỗ kết lại thả trôiSông suối, ven biển

Sào, chèo, lái: những cách làm thuyền đi

Sào là cây tre dài. Người đứng trên thuyền cắm sào xuống đáy sông rồi đẩy, gọi là chống. Chống sào chỉ làm được ở chỗ nước nông. Chèo là mái gỗ dài, dùng ở chỗ nước sâu, buộc vào cọc chèo ở mạn thuyền. Dầm là mái chèo ngắn cầm tay. Lái là bộ phận điều hướng ở đuôi thuyền, người cầm lái quyết thuyền đi đâu.

Những từ này đi vào tục ngữ:

  • Vụng chèo khéo chống. Chèo vụng nhưng khéo bào chữa, khéo chống chế. Câu chơi chữ "chống": vừa là chống sào, vừa là chống chế.
  • Thuyền theo lái, gái theo chồng. Thuyền đi theo tay lái, người con gái lấy chồng thì theo chồng. Câu phản ánh tục cưới gả xưa.
  • Qua sông phải luỵ đò. Muốn qua sông thì phải chiều lòng người lái đò. Ý nói cần nhờ ai thì phải nhún nhường với người ấy.
  • Thuận buồm xuôi gió. Mọi việc trôi chảy như thuyền buồm gặp gió thuận.
  • Sông có khúc, người có lúc. Dòng sông có khúc thẳng khúc quanh, đời người có lúc thịnh lúc suy.

Chữ sào còn là đơn vị đo ruộng đất ở miền Bắc, nhưng đó là một nghĩa khác, không liên quan cây sào chống thuyền.

Bến: chỗ đợi, chỗ nhớ

Bến là chỗ thuyền đậu, người lên xuống, thường có cây đa, quán nước. Trong ca dao, thuyền là người ra đi, bến là người ở lại. Cặp hình ảnh này thành một biểu tượng của tình yêu chung thuỷ:

Thuyền về có nhớ bến chăng,
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

Thuyền đi rồi có thể không về, nhưng bến thì đứng yên một chỗ, một lòng chờ. Có bản chép câu đầu là "Thuyền ơi có nhớ bến chăng".

Trăm năm đành lỗi hẹn hò,
Cây đa bến cũ, con đò khác đưa.

Bến vẫn là bến cũ, cây đa vẫn là cây đa cũ, nhưng con đò đưa khách đã khác. Câu ca dao nói mối tình đã lỡ: cảnh còn nguyên mà người đã đổi. "Cây đa bến cũ" đến nay vẫn là cách nói chỉ những gì cũ còn lại sau khi lòng người đã thay.

Thành ngữ trên bến dưới thuyền chỉ cảnh đông vui, tấp nập buôn bán ở các bến sông xưa, nơi thuyền đậu san sát và người trên bờ mua bán ồn ào.

Sông nước Huế và Nam Bộ trong ca dao

Mỗi vùng có những câu ca dao sông nước gắn với địa danh riêng. Ở Huế, câu hò về những chuyến đò quanh kinh thành:

Đò từ Đông Ba, đò qua Đập Đá,
Đò về Vĩ Dạ, thẳng ngã ba Sình.
Lờ đờ bóng ngả trăng chênh,
Tiếng hò xa vọng, nặng tình nước non.

Đông Ba, Đập Đá, Vĩ Dạ, ngã ba Sình đều là những địa danh có thật quanh sông Hương. Bài ca dao như một hành trình đò đi trong đêm trăng, nghe tiếng hò vọng lại.

Ở Nam Bộ, sông rạch chằng chịt, và ca dao gắn với những ngã ba sông:

Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.

Nhà Bè là nơi sông Sài Gòn và sông Đồng Nai gặp nhau rồi lại chia dòng. Câu ca dao mượn dòng nước chia hai để nói chuyện người chia tay, mỗi người một ngả.

Từ vựng sông nước Nam Bộ còn có vàm (chỗ sông nhỏ đổ ra sông lớn), rạch (đường nước nhỏ), kinh (kênh đào), xuồng ba lá (xuồng nhỏ ghép từ ba tấm ván chính).

Lênh đênh: thân phận trên sông nước

Sông nước trong ca dao không chỉ là cảnh mà còn là thân phận. Con thuyền trôi trên nước, không biết sẽ dạt về đâu, giống phận người không tự quyết được đời mình.

Lênh đênh qua cửa Thần Phù,
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

Cửa Thần Phù là một cửa biển cũ ở vùng giáp ranh xứ Thanh và Ninh Bình, nổi tiếng sóng gió hiểm trở, nay đã bồi thành đất liền. Câu ca dao lấy chuyện qua cửa biển nguy hiểm để nói chuyện tu thân: sống khéo, sống tốt thì qua được, sống vụng thì chìm.

Chiều chiều ra đứng bờ sông,
Muốn về quê mẹ mà không có đò.

Lời người con gái lấy chồng xa: quê mẹ ở bên kia sông, mà không có đò để về. Con đò ở đây không chỉ là phương tiện, mà là cả sự tự do đi lại mà người con gái không có.

Góc nhìn hôm nay

Ngày nay cầu đã bắc qua hầu hết các con sông lớn, đò ngang chỉ còn ở một số nơi. Nhưng các từ sông nước vẫn sống trong lời nói: "qua cầu rút ván", "thuận buồm xuôi gió", "cây đa bến cũ", "trên bến dưới thuyền". Biết nguồn gốc của chúng giúp hiểu vì sao người Việt, một dân tộc sống bên sông, bên biển, nói về đời mình bằng hình ảnh con thuyền.

Muốn cảm được ca dao sông nước, có thể đi một chuyến đò trên sông Hương ở Huế, hoặc đi xuồng trong kênh rạch miền Tây. Các bảo tàng dân tộc học và bảo tàng tỉnh ven sông thường trưng bày mô hình ghe, xuồng, đồ đi sông của từng vùng.

Câu hỏi thường gặp

Đò ngang và đò dọc khác nhau thế nào?

Đò ngang chở người và hàng qua sông, từ bờ này sang bờ kia. Đò dọc đi theo dòng sông, chở khách đường dài từ bến này sang bến khác. Câu ca dao "Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo" nhắc cả hai loại.

Ghe và thuyền khác nhau thế nào?

Ghe là cách gọi thuyền ở miền Trung và Nam Bộ, dùng cho nhiều cỡ thuyền. Thuyền là tên gọi chung, dùng khắp nơi và nhiều trong văn chương. Ở Nam Bộ còn có xuồng, là loại thuyền nhỏ nhẹ đi kênh rạch.

Vụng chèo khéo chống nghĩa là gì?

Câu tục ngữ chê người làm việc vụng về nhưng lại khéo bào chữa. Chữ "chống" vừa là chống sào đẩy thuyền, vừa là chống chế. Người chèo vụng thì đổ cho sào, cho nước, cho gió.

Qua sông phải luỵ đò nghĩa là gì?

Muốn qua sông thì phải chiều lòng người lái đò. Câu tục ngữ nói khi cần nhờ ai thì phải nhún nhường, chiều theo người ấy, dù có thể không muốn.

Cây đa bến cũ con đò khác đưa nghĩa là gì?

Câu ca dao nói mối tình đã lỡ: bến cũ, cây đa cũ vẫn còn, nhưng con đò đưa khách đã khác. Ý là cảnh vật còn nguyên mà người xưa đã thay lòng hoặc đã đi theo người khác.

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói

Bài viết liên quan

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói Xem app khác