Trước năm 1945, ca dao tục ngữ người Việt được sưu tầm qua hai chặng: chặng đầu là các nho sĩ ghi lời hát dân gian bằng chữ Nôm, thường kèm bản dịch hay lời bình chữ Hán, theo khuôn "quốc phong" của Kinh Thi; chặng sau, từ cuối thế kỷ 19, là các tập in bằng chữ quốc ngữ như từ điển của Huình Tịnh Của và Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc (1928). Nhờ những tập này mà nhiều câu ca dao còn đến được hôm nay, dù cách ghi của từng thời để lại dấu riêng trên lời.
Vì sao nho sĩ ghi ca dao
Trong truyền thống Nho học, Kinh Thi là bộ sách gốc về thơ ca, và phần "Quốc phong" của nó vốn là lời hát dân gian các nước thời Chu. Theo quan niệm xưa, nhà vua cho người đi "thái phong", tức thu thập lời hát các địa phương, để biết lòng dân và phong tục. Các nho sĩ Việt Nam mượn quan niệm đó: ghi lời hát của dân là "quan phong", xem phong tục, và cũng là cách chứng minh rằng tiếng hát người Việt không thua gì Quốc phong của Kinh Thi.
Từ khuôn nghĩ này mà sinh ra tên các tập sưu tầm: "phong dao", "quan phong", "phong sử". Nó cũng giải thích vì sao các tập xưa hay phân tích ca dao theo lối phú, tỉ, hứng, những khái niệm lấy từ lý luận Kinh Thi.
Chặng thứ nhất: các tập Nôm – Hán
Nam phong giải trào
Đây là một trong những tập ghi ca dao bằng chữ Nôm được nhắc đến sớm nhất, thường gắn với tên Trần Danh Án, một nhà khoa bảng đỗ Hoàng giáp khoa thi năm 1787, khoa thi cuối cùng của triều Lê. Tài liệu nghiên cứu nói đến việc ông thu thập ca dao và chuyển sang chữ Hán để đặt ngang hàng với Kinh Thi. Về văn bản, người biên soạn và các lớp bổ sung về sau vẫn còn được giới nghiên cứu bàn, nên chỉ nên nói "thường gắn với Trần Danh Án".
Thanh Hoá quan phong
Tập sưu tầm lời hát dân gian xứ Thanh của Vương Duy Trinh, một vị quan đầu tỉnh, ra đời đầu thế kỷ 20. Tập này ghi ca dao, phong dao xứ Thanh bằng chữ Nôm, kèm phần chuyển dịch, chú thích chữ Hán. Đây là nguồn quý cho ca dao vùng Thanh Hoá vì gắn rõ với một địa phương.
Việt Nam phong sử
Tập của Nguyễn Văn Mại, cũng đầu thế kỷ 20, ghi nhiều ca dao bằng chữ Nôm cùng bản dịch thơ chữ Hán và lời bàn. Tên sách đã nói rõ ý đồ: coi lời hát dân gian là "sử" của phong tục một nước.
Đặc điểm chung của chặng này
- Ghi bằng chữ Nôm: chữ Nôm không có chuẩn chính tả thống nhất, một chữ có khi đọc được vài cách. Khi phiên âm lại sau này, các nhà nghiên cứu có thể đọc khác nhau, sinh thêm dị bản trên giấy.
- Kèm chữ Hán: bản dịch, lời bình chữ Hán cho thấy cách nho sĩ hiểu câu ca dao, rất có ích cho việc giải nghĩa từ cổ.
- Có chọn lọc: nho sĩ thường chọn câu "thanh", hợp luân lý, ít ghi câu tục, câu chê quan lại.
- Còn ít được phổ biến: phần lớn là bản chép tay, lưu ở các kho sách Hán Nôm, người đọc thường chỉ biết qua các bản phiên dịch hiện đại.
Chặng thứ hai: chữ quốc ngữ và nghề in
Từ điển và sách học tiếng ở Nam Kỳ
Chữ quốc ngữ phổ biến ở Nam Kỳ sớm hơn các vùng khác. Bộ Đại Nam quốc âm tự vị của Huình Tịnh Của (in 1895–1896) là từ điển tiếng Việt lớn, dẫn rất nhiều tục ngữ, thành ngữ, câu hát để minh hoạ nghĩa từ. Ngày nay nó vẫn được dùng để tra nghĩa từ cổ trong ca dao, vì cho biết người Nam Kỳ cuối thế kỷ 19 hiểu một chữ thế nào.
Báo chí đầu thế kỷ 20
Các tờ báo quốc ngữ đầu thế kỷ 20 đăng nhiều bài bàn về phong tục, văn chương bình dân. Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, đăng báo rồi in thành sách vào giữa thập niên 1910, dẫn rất nhiều ca dao tục ngữ để minh hoạ tập quán. Trên Nam Phong tạp chí, Phạm Quỳnh có bài khảo luận về tục ngữ ca dao, đặt vấn đề coi văn chương bình dân là một bộ phận đáng trân trọng của quốc văn.
Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc
Nguyễn Văn Ngọc (hiệu Ôn Như) là nhà giáo, nhà sưu tầm. Bộ Tục ngữ phong dao in năm 1928, gồm hai quyển, là một trong những tuyển tập ca dao tục ngữ bằng quốc ngữ lớn nhất trước 1945. Sách có phần nói đầu bàn về tục ngữ và phong dao, rồi đến phần tuyển xếp để dễ tra. Nhiều nhà sưu tầm về sau, kể cả Vũ Ngọc Phan, đã tham khảo bộ này.
Giá trị của Tục ngữ phong dao là khối lượng lớn và việc chép bằng chữ quốc ngữ, nên đọc được ngay mà không qua phiên âm. Hạn chế là phần lớn câu không ghi rõ nơi sưu tầm, và người biên soạn có lúc chọn bản hợp ý mình.
Văn học sử
Đầu thập niên 1940, Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm dành phần riêng cho văn chương bình dân, định nghĩa tục ngữ, ca dao và phân tích nội dung. Đây là lần ca dao tục ngữ được đưa vào khung lịch sử văn học một cách có hệ thống, dùng trong nhà trường.
Bảng mốc chính
| Thời kỳ | Tác phẩm, người ghi | Chữ viết | Điểm đáng chú ý |
|---|---|---|---|
| Cuối thế kỷ 18 | Nam phong giải trào, thường gắn với Trần Danh Án | Nôm, Hán | So sánh ca dao với Kinh Thi |
| Cuối thế kỷ 19 | Đại Nam quốc âm tự vị, Huình Tịnh Của | Quốc ngữ | Từ điển dẫn nhiều tục ngữ, câu hát |
| Đầu thế kỷ 20 | Thanh Hoá quan phong, Vương Duy Trinh | Nôm, Hán | Ca dao một vùng cụ thể |
| Đầu thế kỷ 20 | Việt Nam phong sử, Nguyễn Văn Mại | Nôm, Hán | Coi ca dao là "sử" phong tục |
| Giữa thập niên 1910 | Việt Nam phong tục, Phan Kế Bính | Quốc ngữ | Dẫn ca dao để giải thích tập tục |
| 1928 | Tục ngữ phong dao, Nguyễn Văn Ngọc | Quốc ngữ | Tuyển tập quốc ngữ lớn |
| Đầu thập niên 1940 | Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm | Quốc ngữ | Đưa văn chương bình dân vào văn học sử |
Những gì các tập xưa để lại trên lời ca dao
Đọc ca dao hôm nay, ta đang đọc qua lăng kính của những người ghi chép đầu tiên. Có ba dấu vết đáng biết:
- Chọn câu "thanh": nhiều câu bình dân, câu tục, câu chê người có quyền thế ít được ghi, nên kho ca dao trên giấy "sạch" hơn kho ca dao người dân thật sự hát.
- Chuẩn hoá vần, chữ: người ghi có thể sửa chữ cho hợp vần, hợp luật lục bát, làm mất bớt những chỗ lệch vốn rất tự nhiên của lời hát.
- Mất thông tin vùng miền: ngoài vài tập gắn với một tỉnh, phần lớn không ghi câu sưu tầm ở đâu. Nhiều câu vì thế không rõ quê.
Biết những điều này giúp ta dè dặt hơn khi ai đó khẳng định "bản trong sách cũ mới là bản gốc". Sách cũ có giá trị vì ghi sớm, nhưng cũng là một lựa chọn của người ghi.
Góc nhìn hôm nay: tìm đọc các tập xưa ở đâu
- Bản phiên âm, dịch hiện đại: các tập Nôm – Hán đã có bản phiên dịch in ở các nhà xuất bản khoa học xã hội, văn hoá, nên tìm đọc bản có chú giải.
- Thư viện lớn: Thư viện Quốc gia Việt Nam, thư viện của các viện nghiên cứu Hán Nôm, văn hoá dân gian lưu bản gốc và bản in cũ.
- Bản tái bản quốc ngữ: Tục ngữ phong dao, Việt Nam phong tục, Việt Nam văn học sử yếu đều đã được tái bản, dễ tìm.
- Đọc song song: đặt một câu trong Tục ngữ phong dao cạnh câu ấy trong bộ của Vũ Ngọc Phan và Kho tàng ca dao người Việt để thấy câu đổi thế nào qua gần một thế kỷ.
Câu hỏi thường gặp
Ai là người đầu tiên sưu tầm ca dao Việt Nam?
Khó nói chắc ai là người đầu tiên. Trong số các tập còn được nhắc đến, Nam phong giải trào thường được gắn với Trần Danh Án cuối thế kỷ 18 là một trong những tập sớm. Văn bản và người biên soạn của các tập Nôm thời này vẫn còn được nghiên cứu.
Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc in năm nào?
Bộ Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc in năm 1928, gồm hai quyển. Đây là một trong những tuyển tập ca dao tục ngữ bằng chữ quốc ngữ lớn nhất trước năm 1945.
Vì sao các tập ca dao xưa ghi bằng chữ Nôm và chữ Hán?
Trước khi chữ quốc ngữ phổ biến, chữ Nôm là cách ghi tiếng Việt, còn chữ Hán là chữ của học vấn. Nho sĩ ghi lời hát bằng chữ Nôm, rồi dịch hoặc bình bằng chữ Hán để đặt ca dao ngang với Kinh Thi.
Thanh Hoá quan phong là gì?
Đó là tập sưu tầm lời hát dân gian xứ Thanh của Vương Duy Trinh, ra đời đầu thế kỷ 20, ghi bằng chữ Nôm kèm phần chữ Hán. Tên sách lấy ý "quan phong" là xem phong tục của dân qua lời hát.
Các tập ca dao cũ có đáng tin hơn tập mới không?
Tập cũ có giá trị vì ghi sớm, nhưng người ghi cũng chọn lọc và có khi sửa chữ cho hợp ý. Tập mới như Kho tàng ca dao người Việt ghi kèm dị bản, giúp so sánh. Nên đọc cả hai để có cái nhìn đầy đủ.