Lời NóiWiki
Tìm
Từ cổ trong ca dao

Trầu, cau, vôi, cơi trầu: miếng trầu trong ca dao người Việt

Miếng trầu gồm lá trầu không, miếng cau và chút vôi; cơi trầu là khay bày trầu, dao cau để bổ cau. Miếng trầu là đầu câu chuyện, lễ cưới hỏi, lời tỏ tình trong ca dao.

Trầu, cau, vôi, cơi trầu: miếng trầu trong ca dao người Việt

Miếng trầu xưa gồm ba thứ: lá trầu không, một miếng cau và một chút vôi ăn trầu quệt lên lá, cuộn lại để nhai. Cơi trầu là cái khay nông, thường bằng gỗ sơn, để bày trầu cau mời khách; dao cau là con dao nhỏ để bổ cau; bình vôi là đồ đựng vôi. Vì ăn trầu là tục phổ biến khắp nơi, miếng trầu thành cớ bắt chuyện, thành lễ vật cưới hỏi và thành biểu tượng của tình nghĩa, như câu tục ngữ "Miếng trầu là đầu câu chuyện".

Ba thứ trong một miếng trầu

  • Lá trầu: lá cây trầu không, một loài dây leo, lá hình tim, vị cay nồng. "Trầu không" là tên gọi đầy đủ, "trầu" là cách gọi tắt.
  • Cau: quả cây cau, bổ ra từng miếng. Cau non vị chát nhẹ, cau già cứng và chát hơn.
  • Vôi: vôi sống đem ngâm nước cho nhuyễn thành dạng sệt, quệt một lớp mỏng lên lá trầu. Vôi làm miếng trầu đỏ khi nhai.

Người ăn trầu thường kèm một miếng vỏ cây chát. Nhai trầu lâu thì môi đỏ, nước trầu đỏ; người xưa coi môi đỏ màu trầu là đẹp, đi cùng với tục nhuộm răng đen.

Têm trầu là một việc khéo tay. Lá trầu quệt vôi, cuộn lại, cài bằng một cái cuống. Kiểu têm nổi tiếng nhất là trầu cánh phượng, lá trầu được gấp và cắt sao cho xoè ra như cánh chim phượng, thường dùng trong lễ cưới, lễ hội. Người con gái têm trầu đẹp được khen là khéo.

Cơi trầu, dao cau, bình vôi: bộ đồ ăn trầu

Đồ dùngLà gìGhi chú
Cơi trầuKhay nông, thường bằng gỗ sơn, có nắp hoặc khôngBày trầu cau mời khách
Hộp trầu, tráp trầuHộp nhỏ đựng trầu cau mang theoNgười có của dùng hộp bằng bạc, đồng
Dao cauDao nhỏ, lưỡi sắc, để bổ cauCó mặt trong ca dao như hình ảnh sắc sảo
Bình vôiBình gốm nhỏ đựng vôi, có quaiNhiều gia đình giữ bình vôi cũ như đồ quý
Ống nhổỐng hứng nước trầuĐi kèm người ăn trầu lâu năm

Hai thứ hay xuất hiện trong ca dao nhất là cơi trầu và dao cau:

Ước gì anh hoá ra gương,
Để cho em cứ ngày thường em soi.
Ước gì anh hoá ra cơi,
Để cho em đựng cau tươi trầu vàng.

Người con trai ước được làm những vật gần gũi nhất của người con gái: cái gương em soi mỗi ngày, cái cơi em đựng trầu. "Trầu vàng" là trầu lá già, vàng, được ưa chuộng vì cay thơm.

Cổ tay em trắng như ngà,
Con mắt em liếc như là dao cau.

Con dao bổ cau sắc và nhanh, nên cái liếc mắt được ví với dao cau: sắc sảo, làm người nhìn "đứt ruột". Đây là lối so sánh chỉ hiểu được khi biết dao cau là con dao sắc nhất trong nhà.

Cơi trầu cũng xuất hiện trong câu "Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu", và chính độ nông của cái cơi khiến câu ấy có nhiều cách hiểu. Chuyện này được bàn trong bài về tục ngữ trọng nam khinh nữ.

Miếng trầu là đầu câu chuyện

Ngày xưa khách đến nhà, chủ nhà mời trầu trước khi nói chuyện. Ở hội làng, ở chợ, trai gái mời nhau miếng trầu để làm quen. Câu tục ngữ Miếng trầu là đầu câu chuyện nói đúng vai trò ấy: miếng trầu mở lời.

Trầu này trầu tính trầu tình,
Trầu loan trầu phượng, trầu mình lấy ta.

Miếng trầu mời ở đây không còn là miếng ăn mà là lời tỏ tình. "Trầu loan trầu phượng" là trầu của đôi chim loan phượng, biểu tượng vợ chồng. Ăn miếng trầu ấy là nhận lời.

Có bài ca dao kể lại chuyện mời trầu kín đáo của người con gái, một bản thường gặp là:

Trầu này têm tối hôm qua,
Giấu cha giấu mẹ đem ra cho chàng.
Trầu này không phải trầu hàng,
Không bùa không thuốc sao chàng không ăn?

Người con gái têm trầu từ tối, giấu cả cha mẹ để mời người mình thương; người kia không ăn, cô trách. "Trầu hàng" là trầu bán ngoài chợ, không có tình ý gì. "Không bùa không thuốc" là lời thanh minh: miếng trầu không có bùa mê, chàng cứ ăn. Có bản chép "giấu thầy giấu mẹ".

Cau trong ca dao: bổ ba hay bổ mười

Quả cau bổ ra bao nhiêu miếng cũng thành chuyện tình cảm:

Yêu nhau cau sáu bổ ba,
Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.

Yêu nhau thì miếng cau to, bổ ít miếng; ghét nhau thì bổ nhỏ ra cho thật nhiều miếng. Có bản chép "cau bảy bổ ba", nghĩa không đổi: tình cảm hiện ra ngay trong cách mời một miếng cau.

Cau già dao sắc lại non,
Nạ dòng trang điểm lại giòn hơn xưa.

"Nạ dòng" là người đàn bà đã có chồng, có con, đã qua thì con gái. Cau già mà gặp dao sắc thì bổ ra vẫn như cau non; người đàn bà đã có tuổi mà trang điểm vẫn đẹp như xưa. "Giòn" ở đây là tươi tắn, xinh đẹp. "Nạ dòng" là một từ cổ nay hầu như chỉ gặp trong ca dao.

Câu tục ngữ Miếng trầu nên dâu nhà người nói chuyện cưới hỏi: một lễ trầu cau là người con gái đã thành dâu nhà người ta. Trong lễ ăn hỏi xưa và nay, trầu cau vẫn là lễ vật không thể thiếu.

Sự tích trầu cau

Người Việt giải thích tục ăn trầu bằng một truyện cổ được chép trong Lĩnh Nam chích quái, sưu tập truyện dân gian thời trung đại. Truyện kể hai anh em rất thương nhau; người anh lấy vợ, người em buồn bỏ đi, chết bên bờ suối hoá thành tảng đá; người anh đi tìm em, chết hoá thành cây cau mọc bên đá; người vợ đi tìm chồng, chết hoá thành dây trầu quấn quanh cây cau. Đến đời vua Hùng, nhà vua đi qua, nghe chuyện, sai lấy lá trầu, quả cau, nhai cùng với vôi nung từ đá thì thấy đỏ thắm, từ đó dân gian có tục ăn trầu.

Tên hai anh em trong nhiều bản kể là Tân và Lang, trùng với hai chữ Hán tân lang dùng để chỉ cây cau. Các bản kể khác nhau ở nhiều chi tiết. Đây là truyện truyền thuyết, giải thích một phong tục bằng câu chuyện tình nghĩa anh em, vợ chồng, không phải sử liệu.

Góc nhìn hôm nay

Ngày nay ăn trầu chỉ còn ở một số người lớn tuổi, ở vài vùng nông thôn và miền núi, nhưng trầu cau vẫn giữ chỗ trong nghi lễ: lễ ăn hỏi, lễ cưới, mâm cúng ngày giỗ, ngày Tết. Nghệ thuật têm trầu cánh phượng vẫn được trình diễn ở các lễ hội.

Cũng cần biết: Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) thuộc Tổ chức Y tế Thế giới đã xếp hạt cau và miếng trầu có cau vào nhóm tác nhân gây ung thư ở người, đặc biệt là ung thư khoang miệng. Vì vậy tục ăn trầu nên được nhìn như một nét văn hoá để hiểu và giữ trong nghi lễ, không phải thói quen nên duy trì hằng ngày. Ai có dấu hiệu bất thường ở miệng sau nhiều năm ăn trầu nên đi khám.

Muốn xem bộ đồ ăn trầu xưa, có thể ghé Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam hay các bảo tàng tỉnh, nơi trưng bày cơi trầu, hộp trầu, bình vôi bằng gốm, gỗ, bạc của nhiều vùng.

Câu hỏi thường gặp

Cơi trầu là gì?

Cơi trầu là cái khay nông, thường bằng gỗ sơn, dùng để bày trầu cau mời khách. Cơi trầu có mặt trong ca dao như câu "Ước gì anh hoá ra cơi, để cho em đựng cau tươi trầu vàng". Độ nông của cơi trầu cũng là chỗ tạo nghĩa cho câu "Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu".

Miếng trầu là đầu câu chuyện nghĩa là gì?

Ngày xưa khách đến nhà, chủ nhà mời trầu trước khi nói chuyện; trai gái cũng mời trầu để làm quen. Câu tục ngữ nói miếng trầu là cách mở lời, bắt đầu câu chuyện và bày tỏ lòng mến khách.

Yêu nhau cau sáu bổ ba nghĩa là gì?

Câu ca dao nói yêu nhau thì bổ quả cau thành ít miếng, miếng to; ghét nhau thì bổ ra làm mười, miếng nhỏ. Tình cảm hiện ra ngay trong cách mời miếng cau. Có bản chép "cau bảy bổ ba".

Nạ dòng là gì?

"Nạ dòng" là từ cổ chỉ người đàn bà đã có chồng, có con, đã qua tuổi con gái. Từ này gặp trong câu ca dao "Cau già dao sắc lại non, nạ dòng trang điểm lại giòn hơn xưa".

Sự tích trầu cau có trong sách nào?

Sự tích trầu cau được chép trong Lĩnh Nam chích quái, sưu tập truyện dân gian thời trung đại. Truyện kể hai anh em và người vợ hoá thành tảng đá, cây cau và dây trầu, giải thích nguồn gốc tục ăn trầu. Đây là truyền thuyết, không phải sử liệu.

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói

Bài viết liên quan

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói Xem app khác