Câu ca dao làng nghề được nhắc nhiều nhất là "Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng, Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông": một cặp lục bát gói bốn đặc sản thủ công nổi tiếng của miền Bắc. Bên cạnh đó là những câu nhắc làng nghề gián tiếp, như "Nhịp chày Yên Thái" (làng làm giấy dó bên Hồ Tây) hay "mua gạch Bát Tràng về xây". Điều ít người để ý: số câu ca dao nói đích danh một làng nghề có trong các tuyển tập lớn ít hơn nhiều so với những gì lan truyền trên mạng, nên đọc ca dao làng nghề càng cần biết câu nào có nguồn.
"Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng": bản đồ đặc sản trong hai câu
Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng,
Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông.
Câu này theo lối "kể đặc sản" quen thuộc của ca dao: mỗi địa danh đi với một món hàng. Đọc từng vế:
| Vế | Nơi | Nay thuộc | Đặc điểm |
|---|---|---|---|
| Chiếu Nga Sơn | Vùng ven biển Nga Sơn, xứ Thanh | Tỉnh Thanh Hoá | Chiếu dệt bằng cói trồng trên đất bãi bồi ven biển; cói ở đây sợi dài, bền |
| Gạch Bát Tràng | Làng Bát Tràng bên sông Hồng | Hà Nội | Nổi tiếng với gạch nung, nhất là gạch vuông lát nền, trước khi tên làng gắn chặt với đồ gốm sứ như ngày nay |
| Vải tơ Nam Định | Vùng Nam Định | Tỉnh Ninh Bình | Vùng có nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải lâu đời |
| Lụa hàng Hà Đông | Vùng Hà Đông, tiêu biểu là làng Vạn Phúc | Hà Nội | Lụa, the, gấm, vóc dệt tay; Vạn Phúc là làng lụa được nhắc nhiều nhất |
Một chi tiết thú vị: nhiều người đọc câu này nghĩ "gạch Bát Tràng" là gạch men sứ. Thật ra Bát Tràng xưa nổi tiếng cả với gạch nung, loại gạch vuông dùng lát sân đình, sân chùa, lát nền nhà. Đồ gốm Bát Tràng thì có lịch sử dài; từ thế kỷ 16 đã có những món đồ thờ ghi tên người thợ quê Bát Tràng. Hai nghề gạch và gốm cùng tồn tại ở làng này.
Gạch Bát Tràng trong một câu ca dao tình
Gạch Bát Tràng còn xuất hiện trong một bài ca dao tình yêu rất nổi tiếng:
Ước gì anh lấy được nàng,
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây.
Xây dọc rồi lại xây ngang,
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.
Bài này cho thấy cách người xưa nhìn món hàng của một làng nghề: gạch Bát Tràng là thứ sang, thứ đáng mơ ước, đủ để chàng trai đem ra hứa hẹn. "Hồ bán nguyệt" là hồ hình nửa vầng trăng, kiểu hồ hay thấy trước đình, chùa, nhà giàu. Có bản chép khác chữ ở câu ba, câu bốn, nhưng câu "mua gạch Bát Tràng về xây" thì gần như bản nào cũng có.
"Nhịp chày Yên Thái": nghề giấy trong bài ca dao Hà Nội
Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói toả ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Đây là một trong những bài ca dao đẹp nhất về Thăng Long. Ít người để ý rằng "nhịp chày Yên Thái" là âm thanh của một làng nghề. Yên Thái là làng ven Hồ Tây, thuộc vùng Bưởi, nổi tiếng nghề làm giấy dó. Muốn làm giấy, người thợ phải giã vỏ cây dó cho nhuyễn thành bột. Tiếng chày giã dó đều đặn từ sáng sớm vang khắp mặt hồ, thành một phần cảnh sắc kinh kỳ.
Bài này có nhiều dị bản ở chữ "khói toả" và thứ tự các câu. Dù ở bản nào, bốn âm thanh, hình ảnh (chuông đền, gà gáy, chày giã giấy, mặt hồ) vẫn là bốn nét của một Hà Nội buổi sớm.
Nghề tằm tơ, dệt lụa: từ câu ca dao đến tục ngữ
Lụa xuất hiện trong ca dao chủ yếu như một hình ảnh, nhiều hơn là như một làng nghề cụ thể. Câu quen thuộc nhất là "Thân em như tấm lụa đào, Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai", nơi tấm lụa là hình ảnh người con gái đẹp mà không tự quyết được số phận (mô típ "thân em" có bài riêng ở mục lục bát và nghệ thuật ca dao). Câu này cũng cho thấy một thực tế: lụa đào là thứ hàng bày bán giữa chợ, ai cũng biết giá trị.
Về chính nghề tằm tơ, tục ngữ nói rõ hơn ca dao:
- "Nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng": nuôi tằm vất vả, phải canh suốt ngày đêm.
- "Ăn như tằm ăn rỗi": thành ngữ lấy từ giai đoạn tằm lớn ăn lá dâu liên tục, nghe rào rào như mưa. Người làm nghề biết rõ giai đoạn này là lúc mệt nhất.
- "Tằm ăn dâu": tả cái gì mất dần từng chút, như lá dâu bị tằm gặm từ mép vào.
Những từ chỉ dụng cụ dệt như khung cửi, con thoi, guồng tơ có bài giải nghĩa riêng ở mục từ cổ trong ca dao.
Nón và chiếu: nghề của tay phụ nữ
Nón lá và chiếu là hai nghề thủ công gắn với đôi tay phụ nữ nông thôn. Làng Chuông (Thanh Oai xưa, nay thuộc Hà Nội) nổi tiếng nón lá ở miền Bắc; quanh Huế có nhiều làng làm nón bài thơ, loại nón mỏng, giữa hai lớp lá có lồng hình cảnh hoặc câu thơ, soi lên nắng mới thấy. Ở phía nam, chiếu Định Yên (Đồng Tháp) là làng chiếu lâu đời của miền Tây, bên cạnh chiếu Nga Sơn ngoài Bắc.
Ca dao nói đích danh những làng này thì khó tìm trong các tuyển tập lớn. Trên mạng có nhiều câu kiểu "Ai về … mua nón …", "Ai về … mà xem chiếu …", nhưng phần đông không ghi nguồn. Có ý kiến cho rằng một số câu do người địa phương hoặc ngành du lịch đặt về sau; điều đó không làm chúng kém hay, nhưng không nên trích như ca dao cổ khi chưa kiểm được nguồn. Khi viết, an toàn nhất là ghi "câu lưu truyền ở địa phương" nếu biết rõ chỗ nghe được.
Vì sao ca dao làng nghề ít hơn ca dao đồng áng
Đọc tuyển tập sẽ thấy ca dao về ruộng đồng, cấy cày nhiều hơn hẳn ca dao về làng nghề. Có vài lý do có thể nghĩ tới:
- Ca dao sinh ra từ hát. Phần lớn ca dao vốn là lời hát ví, hát giao duyên, hát ru, gắn với những dịp đông người như cấy, gặt, hội. Nghề thủ công làm trong nhà, trong xưởng, ít dịp hát đối đáp.
- Nghề giữ bí mật. Làng nghề thường kín tiếng về cách làm, ít đem ra hát.
- Người sưu tầm chú ý phần đông. Các tuyển tập lớn chọn câu phổ biến khắp vùng; câu chỉ lưu truyền trong một làng dễ bị bỏ sót.
Đây là cách giải thích hợp lý chứ chưa phải kết luận đã được giới nghiên cứu thống nhất.
Góc nhìn hôm nay: đi xem làng nghề, đọc lại ca dao
Nhiều làng trong các câu ca dao vẫn còn giữ nghề. Bát Tràng (Hà Nội) là làng gốm sôi động, có chợ gốm và lò nung có thể xem. Vạn Phúc vẫn có phố bán lụa và nhà còn khung dệt. Làng Chuông vẫn làm nón, nhất là dịp gần Tết. Nga Sơn vẫn dệt chiếu cói. Riêng nghề giấy dó ở Yên Thái thì gần như đã mất; muốn xem làm giấy dó phải tìm đến những làng còn giữ nghề ở nơi khác.
Đi xem làng nghề rồi đọc lại ca dao sẽ thấy câu chữ khác hẳn: "nhịp chày" có tiếng, "gạch Bát Tràng" có màu, "chiếu Nga Sơn" có mùi cói. Muốn tra nguồn câu ca dao, nên dùng Kho tàng ca dao người Việt (Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên) và phần ca dao về nghề nghiệp trong bộ của Vũ Ngọc Phan; ngoài ra các sách địa chí từng tỉnh thường chép câu lưu truyền tại chỗ kèm chú thích.
Câu hỏi thường gặp
Chiếu Nga Sơn gạch Bát Tràng câu tiếp theo là gì?
Câu đầy đủ là "Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng, Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông". Câu kể bốn đặc sản thủ công: chiếu cói xứ Thanh, gạch nung Bát Tràng, vải tơ Nam Định và lụa vùng Hà Đông.
Nhịp chày Yên Thái là gì?
Là tiếng chày giã vỏ cây dó để làm giấy ở làng Yên Thái, ven Hồ Tây, Hà Nội. Câu nằm trong bài ca dao "Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương", tả cảnh Thăng Long buổi sớm.
Gạch Bát Tràng trong ca dao là gạch gì?
Là gạch nung của làng Bát Tràng, nổi tiếng với loại gạch vuông lát sân, lát nền. Câu "Ước gì anh lấy được nàng, Để anh mua gạch Bát Tràng về xây" cho thấy đây là thứ hàng quý, đáng mơ ước thời xưa.
Có ca dao nào về nón lá không?
Nón lá hay xuất hiện trong ca dao như một vật dụng quen thuộc, nhưng câu nói đích danh làng nón cụ thể thì khó tìm trong các tuyển tập lớn. Nhiều câu lan trên mạng chưa rõ nguồn, nên khi trích cần thận trọng.
Lụa Hà Đông trong ca dao là lụa làng nào?
Hà Đông là tên một vùng, nay thuộc Hà Nội, có nhiều làng dệt; nổi tiếng nhất là làng lụa Vạn Phúc. Ca dao chỉ ghi "lụa hàng Hà Đông" chứ không nêu tên làng cụ thể.