"Không thầy đố mày làm nên" là câu tục ngữ nói rằng không có người dạy thì khó ai thành tài; nó đứng đầu cả một chùm câu đề cao việc học và người thầy như "Muốn sang thì bắc cầu kiều, Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy", "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư". Nhưng kho tục ngữ không chỉ có một chiều: ngay cạnh đó là "Học thầy không tày học bạn", "Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học". Đọc cả chùm mới thấy người xưa nghĩ về học hành khá cân bằng: trọng thầy, nhưng cũng trọng bạn, trọng tự học và trọng lễ.
Bối cảnh: một xã hội coi chữ là đường lên
Muốn hiểu vì sao tục ngữ về thầy và chữ nhiều đến vậy, cần nhớ vị trí của học hành trong xã hội Việt thời phong kiến. Năm 1070, nhà Lý dựng Văn Miếu ở Thăng Long; năm 1075 mở khoa thi Nho học đầu tiên; năm 1076 lập Quốc Tử Giám. Từ đó cho đến khoa thi Hội cuối cùng ở Huế năm 1919, khoa cử là con đường chính để một người dân thường bước vào hàng quan lại. Ở làng, ông đồ dạy chữ được kính trọng, người đỗ đạt được làng rước về vinh quy.
Câu ca dao sau nói rõ sức hút đó, từ góc nhìn của một cô gái chọn chồng:
Chẳng tham ruộng cả ao liền,
Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.
"Ruộng cả ao liền" là của cải lớn nhất của nhà nông. Vậy mà cô gái chọn "cái bút cái nghiên", tức chọn cái chữ và tương lai của người học. Bên cạnh đó lại có câu chọc ghẹo ngược chiều, "Ai ơi chớ lấy học trò, Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm", cho thấy dân gian cũng biết đùa cái nghèo, cái vụng việc nhà của anh học trò dùi mài kinh sử.
Chùm câu trọng thầy
"Không thầy đố mày làm nên"
Câu ngắn, giọng nói thẳng như người lớn mắng yêu con trẻ: "đố mày" là thách, ý rằng không thể nào. Người học có giỏi đến đâu thì bước đầu vẫn cần người dẫn. Câu này hay được nói cùng câu ca dao:
Muốn sang thì bắc cầu kiều,
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.
"Cầu kiều" là cây cầu có mái, cầu đẹp. Muốn sang sông thì phải bắc cầu, muốn con giỏi chữ thì cha mẹ phải quý thầy. Lời khuyên ở đây hướng vào cha mẹ chứ không chỉ vào học trò, đúng với tục lệ xưa: cha mẹ lo lễ tết cho thầy, mời thầy về nhà dạy.
"Nhất tự vi sư, bán tự vi sư"
Câu gốc Hán, nghĩa là dạy một chữ cũng là thầy, dạy nửa chữ cũng là thầy. Người Việt còn nói theo lối nôm: "Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy". Câu này không cân đo người thầy giỏi hay dở, dạy nhiều hay ít: đã truyền cho mình điều gì thì phải nhớ ơn.
"Mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy"
Câu này ghi lại một nếp ăn tết có thật: ba ngày đầu năm dành cho ba người mình chịu ơn lớn nhất. Ngày nay nhiều gia đình vẫn giữ thói quen ngày mồng ba đi thăm thầy cô cũ. Ở nhiều nơi thứ tự thăm có thể khác, nhưng thầy luôn có một ngày trong ba ngày tết.
"Cơm cha áo mẹ chữ thầy"
Câu ca dao đầy đủ thường được chép là "Cơm cha áo mẹ chữ thầy, Gắng công mà học có ngày thành danh". Ba thứ ta nhận từ ba người: cơm từ cha, áo từ mẹ, chữ từ thầy. Đặt chữ ngang hàng với cơm áo là cách nói rất mạnh về giá trị của học.
"Học thầy không tày học bạn": câu tưởng như cãi lại
Nghe qua, "Học thầy không tày học bạn" như đi ngược "Không thầy đố mày làm nên". "Tày" là bằng, ngang. Câu nói học thầy không bằng học bạn. Thật ra hai câu bổ sung nhau: thầy mở đường, nhưng phần lớn thời gian người học ở cạnh bạn, học hỏi nhau từng chút, hỏi bạn thì không ngại như hỏi thầy. Câu này cũng phản ánh lối học xưa ở trường làng: học trò lớn kèm học trò nhỏ, cùng bình văn, cùng chép sách.
Những cặp câu "nói ngược nhau" như vậy rất nhiều trong tục ngữ, và cách đọc đúng thường là xem mỗi câu đúng trong một hoàn cảnh. (Wiki có bài riêng về các cặp tục ngữ nói ngược nhau ở mục câu hay hiểu lầm.)
Chùm câu về cách học
| Câu | Ý chính |
|---|---|
| Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học | Hỏi để biết, học để giỏi; không ngại hỏi |
| Dốt đến đâu học lâu cũng biết | Kiên trì thì người chậm cũng tiến bộ |
| Học ăn, học nói, học gói, học mở | Học cả những việc nhỏ nhất trong ứng xử hằng ngày |
| Ăn vóc học hay | Ăn để có sức vóc, học để thành người hiểu biết |
| Dao có mài mới sắc, người có học mới khôn | Học như mài dao, không học thì cùn |
| Ông bảy mươi học ông bảy mốt | Già đến đâu vẫn học được từ người khác |
| Một kho vàng không bằng một nang chữ | Chữ nghĩa quý hơn của cải; "nang" là cái túi |
| Văn ôn võ luyện | Học văn phải ôn, học võ phải luyện, không có chuyện học một lần là xong |
Ngoài ra còn câu Hán người Việt hay dẫn: "Học như nghịch thuỷ hành chu, bất tiến tắc thoái", học như chèo thuyền ngược nước, không tiến thì lùi. Và câu ca dao: "Ngọc kia chuốt mãi cũng tròn, Sắt kia mài mãi cũng còn nên kim", ý gần với "Có công mài sắt có ngày nên kim".
"Tiên học lễ, hậu học văn": lễ đi trước chữ
Câu này quen đến mức được viết trên tường nhiều trường học. Nghĩa là trước hết học lễ nghĩa, cách cư xử, sau mới học chữ nghĩa, kiến thức. Ý tứ của nó gần với một đoạn trong Luận ngữ (thiên Học nhi): người học trò ở nhà thì hiếu thảo, ra ngoài thì kính trên, cẩn trọng và giữ chữ tín, thương yêu mọi người, "hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn", làm được những điều ấy rồi còn sức thì mới học văn.
Câu này từng gây tranh luận trong những năm gần đây: có người cho rằng đặt "lễ" trước dễ thành đòi hỏi trò phải phục tùng. Cách hiểu cân bằng là "lễ" ở đây là cách sống tử tế, biết tôn trọng người khác, chứ không phải im lặng tuyệt đối. Hai câu "Trọng thầy mới được làm thầy" và "Không thầy đố mày làm nên" cho thấy sự tôn trọng ấy được kỳ vọng sẽ truyền nối, người được kính hôm nay là người đã từng biết kính.
Câu nói về chữ nghĩa và trách nhiệm
- "Bút sa gà chết." Đã đặt bút viết, ký thì phải chịu trách nhiệm về điều mình viết. Hình ảnh "gà chết" có nhiều cách giải thích nguồn gốc, chưa cách nào được các tuyển tập xác nhận, nhưng ý câu thì rõ. Hay dùng khi nói về giấy tờ, cam kết.
- "Văn hay chẳng luận đặt dài." Bài văn hay không cốt ở dài. Câu này đến nay vẫn được thầy dạy viết nhắc đi nhắc lại.
- "Chữ thầy trả thầy." Thành ngữ chê người học xong là quên sạch, kiến thức không ở lại với mình.
Góc nhìn hôm nay: còn đúng bao nhiêu
Nhiều câu vẫn đúng nguyên vẹn, chỉ cần đổi khung cảnh. "Muốn biết phải hỏi" là lời khuyên tốt cho bất kỳ ai đi học, đi làm. "Học thầy không tày học bạn" càng đúng khi người ta học qua nhóm, qua cộng đồng. "Ông bảy mươi học ông bảy mốt" là tinh thần học suốt đời.
Một vài câu nên đọc kèm bối cảnh. "Không thầy đố mày làm nên" ra đời khi sách vở hiếm, người biết chữ ít, nên thầy gần như là con đường duy nhất đến tri thức. Ngày nay người học có thêm sách, thư viện, tài liệu mở, nhưng vai trò người dẫn đường vẫn khó thay: biết đọc gì trước, hiểu sai ở đâu, sửa thế nào.
Muốn thấy tận mắt không khí học hành xưa, có thể đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở Hà Nội, nơi còn 82 tấm bia tiến sĩ (đã được UNESCO ghi danh trong Chương trình Ký ức Thế giới); hoặc Văn Miếu Mao Điền ở Hải Dương xưa, Văn Thánh ở Huế. Sách nên đọc: phần tục ngữ về học tập trong bộ Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, và các bài về giáo dục khoa cử trong Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, cuốn sách vốn được viết cho học trò.
Còn câu "Nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò" thì nhiều người tưởng là chê, nhiều người lại hiểu là khen tinh nghịch. Câu này có bài riêng ở mục câu hay hiểu lầm.
Câu hỏi thường gặp
Không thầy đố mày làm nên nghĩa là gì?
Câu nói rằng không có thầy dạy dỗ, chỉ đường thì khó ai thành tài. "Đố mày" là lối nói thách, ý là không thể. Câu khuyên người học phải biết ơn và kính trọng thầy.
Học thầy không tày học bạn có mâu thuẫn với không thầy đố mày làm nên không?
Không hẳn. "Tày" là bằng; câu nói học bạn có khi được nhiều hơn học thầy vì ở cạnh bạn lâu, dễ hỏi han. Hai câu bổ sung nhau: thầy mở đường, bạn cùng đi.
Nhất tự vi sư bán tự vi sư nghĩa là gì?
Câu Hán nghĩa là dạy một chữ cũng là thầy, dạy nửa chữ cũng là thầy. Người Việt nói "Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy", ý rằng ai truyền cho mình điều hay thì đều đáng nhớ ơn.
Những câu ca dao tục ngữ nào nói về thầy cô?
Hay dùng nhất là "Không thầy đố mày làm nên", "Muốn sang thì bắc cầu kiều, Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy", "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư", "Mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy", "Cơm cha áo mẹ chữ thầy, Gắng công mà học có ngày thành danh".
Tiên học lễ hậu học văn có nguồn gốc từ đâu?
Câu này là lối nói đúc kết theo tinh thần Nho học. Ý của nó gần với đoạn trong Luận ngữ, thiên Học nhi: người học trước hết phải hiếu thảo, kính trên, giữ chữ tín, còn sức mới học văn.