Lời NóiWiki
Tìm
Lục bát & nghệ thuật ca dao

Truyện Kiều: lục bát của Nguyễn Du hay ở những điểm nào

Lục bát Truyện Kiều giữ đúng luật suốt 3.254 câu mà không đơn điệu: đổi nhịp, tiểu đối, điệp ngữ, từ láy, trộn chữ bác học với lời dân gian, cảnh luôn mang tâm trạng.

Truyện Kiều: lục bát của Nguyễn Du hay ở những điểm nào

Lục bát trong Truyện Kiều hay vì Nguyễn Du giữ đúng luật suốt 3.254 câu mà không hề đơn điệu: ông đổi nhịp, dùng tiểu đối, điệp ngữ, từ láy đúng chỗ, và trộn nhuần nhuyễn chữ bác học với lời ăn tiếng nói dân gian. Mỗi câu vừa kể chuyện vừa tả lòng người, cảnh vật luôn mang tâm trạng nhân vật. Nhờ vậy một thể thơ vốn của lời ru, lời hát đã trở thành thể thơ của một kiệt tác văn học.

Vài thông tin cơ bản

  • Tên gốc: Đoạn trường tân thanh (Tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột). Tên Truyện Kiều là tên dân gian quen gọi.
  • Tác giả: Nguyễn Du (mất năm 1820), nhà thơ lớn cuối thế kỷ 18 – đầu thế kỷ 19.
  • Nguồn cốt truyện: dựa trên tiểu thuyết chương hồi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Nguyễn Du giữ khung truyện nhưng viết lại hoàn toàn bằng thơ Nôm, thay đổi cách kể và chiều sâu nhân vật.
  • Thời điểm sáng tác: còn được bàn. Có ý kiến cho là trước khi Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc (1813), có ý kiến cho là sau.
  • Thể thơ: 3.254 câu lục bát.

1. Đúng luật mà không đều đều

Lục bát dễ rơi vào đều đều vì nhịp chẵn lặp lại. Nguyễn Du phá sự đều đều bằng cách đổi nhịp đúng chỗ.

Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.

Câu lục ngắt 3/3, câu bát ngắt 4/4, mỗi câu là một cặp tiểu đối: "làn thu thuỷ" đối "nét xuân sơn" (mắt trong như nước mùa thu, lông mày đẹp như núi mùa xuân); "hoa ghen thua thắm" đối "liễu hờn kém xanh". Câu thơ đứng lại như một bức tranh khi đến đoạn tả nhan sắc Thuý Kiều, rồi trở về nhịp chẵn khi câu chuyện đi tiếp.

2. Tả người bằng một câu

Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.

Sáu chữ tả cả hai chị em: dáng thanh như mai, tâm hồn trong như tuyết. Câu bát kết luận gọn: mỗi người một vẻ, đều hoàn hảo. Rồi khi tả riêng Thuý Vân:

Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

Thiên nhiên "thua", "nhường" Thuý Vân, tức là chịu thua mà vẫn hoà thuận. Còn với Thuý Kiều, hoa "ghen", liễu "hờn", thiên nhiên đố kỵ. Chỉ khác nhau một động từ, Nguyễn Du đã báo trước số phận êm đềm của Vân và số phận sóng gió của Kiều. Đó là cái hay của lục bát Kiều: câu thơ ngắn mà chứa cả cốt truyện.

3. Cảnh nào cũng mang tâm trạng

Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Hai câu tả cảnh mùa xuân trong tiết thanh minh: nền cỏ non xanh mênh mông, điểm vài bông lê trắng. Câu này thường được chỉ ra là phỏng theo một câu thơ cổ Trung Hoa, nhưng Nguyễn Du thêm chữ "trắng" và chữ "điểm", làm bức tranh có màu và có động tác. Cảnh lúc này còn trong trẻo như tâm hồn chị em Kiều khi chưa gặp biến cố.

Đến đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích, cảnh hoàn toàn khác:

Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Bốn lần "Buồn trông" mở đầu bốn câu lục, như bốn đợt sóng buồn dâng lên. Cảnh đi từ xa đến gần, từ nhạt đến đậm: cánh buồm thấp thoáng, cánh hoa trôi, nội cỏ rầu rầu, rồi sóng ầm ầm ngay quanh chỗ ngồi. Nỗi buồn của Kiều cũng đi từ man mác đến hoảng sợ. Tả cảnh ngụ tình như vậy là đặc trưng của văn học trung đại, nhưng ít đoạn nào đạt độ chính xác của đoạn này.

Chính Nguyễn Du cũng tự đúc kết: "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu / Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ."

4. Từ láy và âm thanh

Sè sè nấm đất bên đàng,
Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

Đây là mộ Đạm Tiên, một ca nhi bạc mệnh mà Kiều gặp trong buổi thanh minh. "Sè sè" tả nấm mộ thấp, gần bằng mặt đất, tức là không ai đắp điếm. "Rầu rầu" tả ngọn cỏ úa, đồng thời gợi nỗi buồn. Hai từ láy đặt đầu hai câu tạo sự cân xứng, và chỉ với chúng, người đọc đã thấy một ngôi mộ vô chủ lạnh lẽo.

Lục bát Kiều có rất nhiều từ láy như vậy: "thấp thoáng", "man mác", "xanh xanh", "ầm ầm", "lơ thơ", "nao nao". Chúng làm câu thơ có tiếng, có hình, đọc lên nghe được.

5. Trộn chữ bác học với lời dân gian

Truyện Kiều dùng nhiều từ Hán Việt và điển cố, nhưng cũng dùng rất nhiều cách nói của người bình dân. Cái tài là hai lớp ngôn ngữ này đi cùng nhau tự nhiên.

Duyên hội ngộ, đức cù lao,
Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn?

Câu lục là chữ Hán Việt trang trọng: "duyên hội ngộ" (duyên gặp gỡ), "đức cù lao" (công cha mẹ nuôi nấng, lấy từ Kinh Thi). Câu bát là lời nói thường, một câu hỏi ai cũng hiểu. Kiều phải chọn giữa tình yêu với Kim Trọng và chữ hiếu với cha, và câu hỏi ấy được nói bằng giọng đời thường nhất.

Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.

"Con én đưa thoi" là hình ảnh dân gian (chim én bay qua lại như con thoi dệt cửi, gợi thời gian trôi nhanh). "Thiều quang chín chục" là chữ bác học: ánh sáng đẹp của chín mươi ngày xuân. Theo cách hiểu phổ biến trong sách giáo khoa, "đã ngoài sáu mươi" nghĩa là đã qua hơn sáu mươi ngày, tức đang vào tháng ba.

6. Những câu đã thành của chung

Lục bát Kiều đi vào lời ăn tiếng nói đến mức nhiều câu được dẫn như tục ngữ:

  • "Trăm năm trong cõi người ta / Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau."
  • "Thiện căn ở tại lòng ta / Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài."
  • "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu / Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ."

Đây là thơ có tác giả, dù được dẫn như lời chung. Các lối chơi với câu Kiều như tập Kiều, lẩy Kiều, bói Kiều là chủ đề của một wiki khác trong hệ.

So sánh lục bát Kiều với lục bát ca dao

Ca daoTruyện Kiều
LuậtNhiều biến thể, vần dời, câu dàiGần như tuyệt đối đúng luật chuẩn
Độ dàiThường 2–4 câu3.254 câu liền mạch
Ngôn ngữBình dân, phương ngữ, từ cổBác học xen bình dân
Nhân vật nóiMột người không tên ("em", "anh")Nhân vật có tên, có tính cách, người kể chuyện
Chức năngBày tỏ một tình cảmKể một câu chuyện dài, khắc hoạ tâm lý

Hai loại lục bát không hơn kém nhau, chỉ khác mục đích. Nguyễn Du học từ ca dao sự tự nhiên của lời nói, rồi đưa vào khuôn luật chặt chẽ để kể một câu chuyện dài.

Góc nhìn hôm nay: đọc Kiều cho thấy cái hay của lục bát

  • Đọc bản có chú giải tốt: nhiều điển cố, từ Hán Việt cần chú thích mới hiểu hết.
  • Đọc to: lục bát Kiều viết để đọc thành tiếng, ngâm, "lẩy" trong sinh hoạt. Đọc thầm sẽ mất phần nhạc.
  • Chọn một đoạn, phân tích nhịp: đánh dấu những câu ngắt 3/3, 4/4, xem chúng rơi vào chỗ nào của câu chuyện.
  • Tham quan: Khu lưu niệm Nguyễn Du ở Tiên Điền (Hà Tĩnh) có trưng bày về cuộc đời và các bản Truyện Kiều.
  • Đọc thêm: các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Truyện Kiều, và bài "Thơ lục bát: luật vần, luật bằng trắc và nhịp" cùng danh mục.

Câu hỏi thường gặp

Truyện Kiều có bao nhiêu câu?

Truyện Kiều của Nguyễn Du có 3.254 câu thơ lục bát. Tên gốc của tác phẩm là Đoạn trường tân thanh.

Truyện Kiều dựa vào tác phẩm nào?

Nguyễn Du dựa trên cốt truyện tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Ông giữ khung truyện nhưng viết lại bằng thơ Nôm lục bát, thay đổi cách kể và đào sâu tâm lý nhân vật.

Lục bát trong Truyện Kiều hay ở điểm nào?

Lục bát Kiều giữ đúng luật nhưng đổi nhịp linh hoạt, dùng tiểu đối, điệp ngữ, từ láy đúng chỗ, và trộn khéo chữ Hán Việt với lời nói dân gian. Cảnh vật luôn mang tâm trạng nhân vật, như đoạn "Buồn trông" ở lầu Ngưng Bích.

Đoạn "Buồn trông cửa bể chiều hôm" nói gì?

Đây là đoạn Kiều một mình ở lầu Ngưng Bích, nhìn ra cảnh vật. Bốn lần "Buồn trông" mở ra bốn cảnh từ xa đến gần, từ nhạt đến dữ dội, diễn tả nỗi buồn và nỗi lo sợ tăng dần của nhân vật.

Truyện Kiều được viết năm nào?

Thời điểm sáng tác chưa xác định chắc chắn. Có ý kiến cho rằng Nguyễn Du viết trước khi đi sứ Trung Quốc năm 1813, có ý kiến cho là sau. Vấn đề này vẫn được các nhà nghiên cứu bàn.

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói

Bài viết liên quan

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói Xem app khác