Song thất lục bát là thể thơ mỗi khổ bốn câu: hai câu bảy chữ (song thất) rồi một cặp lục bát. Hai câu bảy chữ thường ngắt nhịp 3/4 và gieo vần trắc: chữ thứ bảy câu trên vần với chữ thứ năm câu dưới; chữ thứ bảy câu dưới là thanh bằng, vần với chữ cuối câu lục; cặp lục bát theo luật lục bát quen thuộc, và chữ cuối câu bát lại vần sang khổ sau. Đây là thể thơ của các khúc ngâm nổi tiếng như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, hợp với giọng than thở, buồn thương.
Cấu trúc một khổ
Lấy bốn câu mở đầu bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm:
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.
Xanh kia thăm thẳm từng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
- Câu 1 (thất, bảy chữ): kết bằng "bụi", thanh trắc.
- Câu 2 (thất, bảy chữ): chữ 5 "nỗi" thanh trắc, vần với "bụi"; chữ 7 "chuyên" thanh bằng.
- Câu 3 (lục, sáu chữ): chữ 6 "trên" vần với "chuyên".
- Câu 4 (bát, tám chữ): chữ 6 "nên" vần với "trên"; chữ 8 "này" sẽ vần sang khổ sau.
Câu đầu khổ tiếp theo là "Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt": chữ thứ năm "lay" vần với "này". Chuỗi vần nối các khổ thành một dòng chảy dài, giống như lục bát nhưng có thêm hai "nhịp gãy" của câu thất.
Luật thanh của hai câu bảy chữ
| Vị trí chữ | 3 | 5 | 7 | Nhịp |
|---|---|---|---|---|
| Câu thất trên | Trắc (thường) | Bằng | Trắc (gieo vần) | 3/4 |
| Câu thất dưới | Bằng (thường) | Trắc (vần với chữ 7 câu trên) | Bằng | 3/4 |
Kiểm lại với ví dụ: "Thuở trời đất nổi cơn gió bụi": chữ 3 "đất" trắc, chữ 5 "cơn" bằng, chữ 7 "bụi" trắc. "Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên": chữ 3 "hồng" bằng, chữ 5 "nỗi" trắc, chữ 7 "chuyên" bằng. Hai câu đối xứng nhau về thanh, câu dưới như một tiếng vọng đảo ngược của câu trên.
Nhịp 3/4 khác thơ Đường
Câu bảy chữ của thơ Đường luật thường ngắt 4/3: "Bước tới Đèo Ngang / bóng xế tà". Câu thất trong song thất lục bát lại ngắt 3/4: "Thuở trời đất / nổi cơn gió bụi", "Khách má hồng / nhiều nỗi truân chuyên". Ba chữ đầu như một tiếng gọi, bốn chữ sau như lời than tiếp nối. Nhịp này được coi là nét riêng của thể thơ Việt, khác hẳn câu thất ngôn mượn từ Trung Hoa.
Luật vần tổng hợp
| Chữ gieo vần | Vần với | Loại thanh |
|---|---|---|
| Chữ 7 câu thất trên | Chữ 5 câu thất dưới | Trắc |
| Chữ 7 câu thất dưới | Chữ 6 câu lục | Bằng |
| Chữ 6 câu lục | Chữ 6 câu bát | Bằng |
| Chữ 8 câu bát | Chữ 5 câu thất trên của khổ sau (có khi chữ 3) | Bằng |
Điểm đặc biệt là song thất lục bát dùng cả vần trắc (giữa hai câu thất) lẫn vần bằng (từ câu thất dưới trở đi). Lục bát thuần chỉ dùng vần bằng. Vần trắc tạo cảm giác nghẹn, gãy, rồi cặp lục bát kéo ra êm dịu. Một khổ thơ vì thế có hai trạng thái: nấc lên rồi thở dài.
Thêm một ví dụ để luyện mắt
Bốn câu mở đầu Văn tế thập loại chúng sinh (còn gọi Văn chiêu hồn) của Nguyễn Du:
Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt xương khô.
Não người thay buổi chiều thu,
Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.
"sụt" vần với "buốt" (vần trắc, vần thông ut – uôt); "khô" vần với "thu" (vần thông ô – u); "thu" vần với "ngô". Câu thất ngắt 3/4: "Tiết tháng bảy / mưa dầm sùi sụt". Cảnh mưa tháng bảy, gió heo may, lau bạc, lá ngô đồng rụng mở ra không khí bi thương cho cả bài văn tế những vong hồn không nơi nương tựa.
Song thất lục bát được dùng cho gì
- Ngâm khúc: thể loại trữ tình dài, nhân vật tự than về số phận. Tiêu biểu: Chinh phụ ngâm (bản Nôm từ nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Ai tư vãn (Lê Ngọc Hân khóc vua Quang Trung).
- Văn tế, văn chiêu hồn: như Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du.
- Diễn ca, vè, ca dao: một số bài kể chuyện dân gian, vè và ca dao cũng dùng câu bảy chữ xen lục bát, nhưng không chặt chẽ như ngâm khúc. Ví dụ "Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc / Em có chồng anh tiếc lắm thay" chen hai câu bảy chữ vào giữa bài lục bát.
Giọng của thể thơ này hợp với nỗi buồn, nỗi nhớ, sự day dứt. Khó tìm được một bài song thất lục bát vui nổi tiếng.
Song thất lục bát so với lục bát
| Lục bát | Song thất lục bát | |
|---|---|---|
| Đơn vị | Cặp 6 – 8 | Khổ 7 – 7 – 6 – 8 |
| Vần | Chỉ vần bằng | Vần trắc và vần bằng |
| Nhịp | Chủ yếu chẵn 2/2/2 | Câu thất 3/4, câu lục bát nhịp chẵn |
| Giọng | Êm, đều, kể chuyện, ru | Nghẹn, day dứt, than thở |
| Tác phẩm tiêu biểu | Truyện Kiều, Lục Vân Tiên | Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc |
Cách đọc một bài song thất lục bát
- Đọc theo khổ bốn câu, không đọc từng câu rời. Mỗi khổ thường là một ý trọn.
- Nhấn vào nhịp 3/4 của câu thất: ba chữ đầu thường là chỗ đặt hình ảnh, bốn chữ sau là cảm xúc.
- Nghe tiếng vần trắc: cặp vần trắc giữa hai câu thất là chỗ cảm xúc dồn nén nhất.
- Để ý điệp ngữ: ngâm khúc rất hay lặp chữ nối các câu ("Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy / Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu / Ngàn dâu xanh ngắt một màu"). Chữ cuối câu trước được nhắc lại ở đầu câu sau như một vòng xoáy.
- Ngâm thử: thể thơ này sinh ra để ngâm. Nghe một nghệ nhân ngâm Chinh phụ ngâm sẽ thấy nhịp 3/4 và vần trắc rõ hơn mọi lời giải thích.
Góc nhìn hôm nay
Song thất lục bát ít được dùng trong thơ hiện đại so với lục bát, vì luật chặt và giọng gắn với thời ngâm khúc. Nhưng nó vẫn có mặt trong chương trình Ngữ văn qua các đoạn trích Chinh phụ ngâm, và vẫn được các câu lạc bộ ngâm thơ biểu diễn. Muốn tìm hiểu tiếp:
- Đọc trọn Chinh phụ ngâm bản Nôm có chú giải, rồi đọc Cung oán ngâm khúc để so hai giọng than: người vợ lính và người cung nữ.
- Tập nhận diện luật bằng cách đánh dấu vần trắc, vần bằng trên vài khổ.
- Xem bài "Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc" cùng danh mục để biết thêm về hai tác phẩm.
Câu hỏi thường gặp
Song thất lục bát là gì?
Song thất lục bát là thể thơ mỗi khổ gồm hai câu bảy chữ và một cặp lục bát. Hai câu bảy chữ ngắt nhịp 3/4 và gieo vần trắc với nhau, rồi câu thất dưới chuyển sang vần bằng nối với cặp lục bát. Đây là thể thơ của các ngâm khúc nổi tiếng.
Luật vần song thất lục bát thế nào?
Chữ 7 câu thất trên (trắc) vần với chữ 5 câu thất dưới (trắc). Chữ 7 câu thất dưới (bằng) vần với chữ 6 câu lục. Chữ 6 câu lục vần với chữ 6 câu bát, và chữ 8 câu bát vần với chữ 5 (có khi chữ 3) câu thất đầu khổ sau.
Câu bảy chữ trong song thất lục bát ngắt nhịp thế nào?
Thường ngắt 3/4, như "Thuở trời đất / nổi cơn gió bụi". Nhịp này khác câu bảy chữ thơ Đường luật vốn hay ngắt 4/3, và được xem là nét riêng của thể thơ Việt.
Tác phẩm nào viết bằng song thất lục bát?
Tiêu biểu là Chinh phụ ngâm (bản diễn Nôm), Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân và Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du.
Song thất lục bát khác lục bát ở đâu?
Lục bát là cặp câu 6 – 8 chỉ gieo vần bằng, giọng êm đều. Song thất lục bát có thêm hai câu bảy chữ gieo vần trắc, ngắt 3/4, nên giọng nghẹn ngào, day dứt hơn, hợp với các khúc ngâm buồn.