Lời NóiWiki
Tìm
Lục bát & nghệ thuật ca dao

Thơ lục bát: luật vần, luật bằng trắc và cách ngắt nhịp

Lục bát gồm cặp câu sáu và tám chữ; chữ 2-4-6 câu lục là B-T-B, câu bát B-T-B-B; chữ 6 câu lục vần chữ 6 câu bát, chữ 8 câu bát vần sang câu lục sau.

Thơ lục bát: luật vần, luật bằng trắc và cách ngắt nhịp

Thơ lục bát gồm từng cặp câu sáu chữ (câu lục) và tám chữ (câu bát), gieo vần bằng: chữ thứ sáu câu lục vần với chữ thứ sáu câu bát, chữ thứ tám câu bát lại vần với chữ thứ sáu câu lục kế tiếp. Về thanh, các chữ thứ 2, 4, 6 câu lục theo thứ tự bằng – trắc – bằng; các chữ 2, 4, 6, 8 câu bát là bằng – trắc – bằng – bằng, trong đó chữ 6 và chữ 8 thường khác nhau ở thanh huyền và thanh ngang. Các chữ ở vị trí lẻ 1, 3, 5 được tự do, và nhịp phổ biến là nhịp chẵn 2/2/2.

Bằng và trắc là gì

Luật thơ Việt chia sáu thanh điệu thành hai nhóm:

NhómThanhVí dụ
BằngThanh ngang (không dấu), thanh huyềnta, năm, ai / là, đình, chiều
TrắcThanh sắc, hỏi, ngã, nặngđất, cõi, mãi, mệnh

Thanh bằng đọc lên ngang, kéo dài được; thanh trắc gãy, chuyển hướng. Thơ lục bát dựa vào sự xen kẽ hai nhóm này ở các vị trí chẵn để tạo nhạc điệu đều đặn, êm như lời ru.

Luật thanh: bảng tóm tắt

Vị trí chữ12345678
Câu lụctự doBtự doTtự doB (vần)
Câu báttự doBtự doTtự doB (vần)tự doB (vần)

Một câu nhớ nhanh mà người học thơ hay truyền nhau: "nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh", nghĩa là chữ 1, 3, 5 không cần xét, chữ 2, 4, 6 phải rõ ràng. Câu này vốn dùng cho thơ Đường luật, nhưng áp vào lục bát cũng đúng ở phần lớn trường hợp.

Chuyện chữ 6 và chữ 8 câu bát

Cả hai đều phải là thanh bằng, nhưng trong thơ hay, chúng thường khác nhau: một chữ thanh huyền, một chữ thanh ngang. Nếu cả hai cùng thanh ngang hoặc cùng thanh huyền, câu đọc lên dễ đều đều, thiếu điểm nhấn. Xem câu bát nổi tiếng:

Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Câu lục: "năm" (2, bằng) – "cõi" (4, trắc) – "ta" (6, bằng). Câu bát: "tài" (2, bằng) – "mệnh" (4, trắc) – "là" (6, bằng, thanh huyền) – "nhau" (8, bằng, thanh ngang). Chữ 6 và chữ 8 khác nhau huyền – ngang, đúng mẫu thường gặp. Đây là xu hướng của thơ hay, không phải điều cấm: nhiều câu ca dao để hai chữ cùng thanh vẫn được truyền tụng.

Luật vần

Lục bát chỉ gieo vần bằng và dùng xen hai loại vần:

  • Vần lưng: chữ cuối câu lục (chữ 6) vần với chữ thứ 6 của câu bát ngay sau. Chữ 6 câu bát nằm ở giữa, ở "lưng" câu, nên gọi là vần lưng.
  • Vần chân: chữ cuối câu bát (chữ 8) vần với chữ cuối câu lục tiếp theo. Nhờ vậy các cặp lục bát móc nối nhau như mắt xích, kéo dài được vô tận.

Xem bốn câu mở đầu Truyện Kiều:

Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

"ta" vần với "là"; "nhau" vần với "dâu"; "dâu" vần với "đau". Chuỗi vần chạy liên tục, khiến người đọc thuộc câu này thì gần như tự nhớ ra câu kia. Đó là lý do Truyện Kiều dài 3.254 câu mà nhiều người vẫn thuộc lòng hàng trăm câu.

Vần chính và vần thông

Vần chính là hai chữ có phần vần giống hệt, chỉ khác phụ âm đầu: "ta – là", "đêm – mềm". Vần thông là hai chữ có phần vần gần nhau, đọc lên vẫn hoà: "nhau – dâu" (au – âu). Thơ dân gian dùng vần thông rất tự nhiên. Điều nên tránh là "trùng vần" kiểu dùng lại chính chữ đó để vần, như "hoa" vần với "hoa", đọc lên thấy nghèo.

Nhịp: cách ngắt câu

Nhịp chẵn là chính

Câu lục thường ngắt 2/2/2, câu bát 2/2/2/2: "Trăm năm / trong cõi / người ta". Nhịp chẵn tạo cảm giác êm, đều, hợp với lời ru, lời kể.

Nhịp 3/3 và 4/4

Để tránh đều đều, người làm thơ đổi nhịp. Câu lục ngắt 3/3, câu bát ngắt 4/4, thường kèm tiểu đối (hai vế đối nhau trong một câu):

Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

"Làn thu thuỷ / nét xuân sơn" đối nhau từng chữ: làn – nét, thu – xuân, thuỷ – sơn. "Hoa ghen thua thắm / liễu hờn kém xanh" cũng vậy. Đổi nhịp đúng chỗ làm câu thơ có điểm nhấn, như người kể chuyện chậm lại để tả một vẻ đẹp.

Nhịp lẻ và ngắt bất thường

Có câu ngắt 1/5, 3/5 hay ngắt giữa câu để diễn tả cảm xúc đột ngột. Ca dao dùng nhịp lẻ khá nhiều, nhất là trong câu đối đáp có lời gọi "Ai ơi", "Mình ơi".

Lục bát chuẩn và lục bát biến thể

Những luật trên là luật của lục bát "chuẩn", rõ nhất trong truyện thơ Nôm thế kỷ 18–19 như Truyện Kiều. Ca dao thì tự do hơn nhiều: vần có thể dời từ chữ 6 sang chữ 4 câu bát, câu có thể dài hơn sáu, tám chữ, có khi chen câu bảy chữ vào giữa. Những trường hợp đó gọi là lục bát biến thể, không phải "sai luật". Bài "Lục bát biến thể trong ca dao" cùng danh mục bàn kỹ.

Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Ở đây chữ 6 câu lục "đêm" vần với chữ 4 câu bát "mềm", chứ không phải chữ 6. Chữ 4 lại là thanh bằng, trái luật chuẩn. Nhưng câu đọc lên vẫn trơn tru, vì vần đến sớm khiến nhịp câu nhanh hơn, hợp với hình ảnh con cò bị ngã.

Lục bát từ đâu ra

Lục bát được coi là thể thơ riêng của người Việt, không mượn từ thơ Trung Hoa. Về thời điểm định hình, giới nghiên cứu chưa thống nhất: có ý kiến cho rằng nó lớn lên từ lời hát dân gian từ rất sớm, rồi được văn học viết bằng chữ Nôm tiếp nhận và chuẩn hoá. Điều chắc chắn là đến thế kỷ 18–19, với các truyện thơ Nôm, lục bát đã hoàn chỉnh về luật, và Truyện Kiều của Nguyễn Du được xem là đỉnh cao của thể này.

Góc nhìn hôm nay: tập đọc lục bát cho có nhạc

  • Đọc to, chậm: thử gõ nhẹ ngón tay ở các chữ 2, 4, 6, 8 sẽ thấy nhịp bằng – trắc nổi lên.
  • Đánh dấu vần: lấy một đoạn Truyện Kiều, gạch dưới các chữ vần để thấy chuỗi mắt xích.
  • So ca dao với Kiều: đọc mười câu ca dao rồi mười câu Kiều, đếm xem bao nhiêu câu ca dao lệch luật chuẩn. Kết quả sẽ cho thấy dân gian tự do đến mức nào.
  • Muốn tập làm thơ: xem bài "Cách làm thơ lục bát cho người mới" cùng danh mục.
  • Sách nên đọc: Thi pháp ca dao của Nguyễn Xuân Kính; các sách phân tích Truyện Kiều có chú giải.

Câu hỏi thường gặp

Luật thơ lục bát là gì?

Thơ lục bát gồm cặp câu sáu chữ và tám chữ. Chữ 2, 4, 6 câu lục là bằng – trắc – bằng; chữ 2, 4, 6, 8 câu bát là bằng – trắc – bằng – bằng. Chữ 6 câu lục vần với chữ 6 câu bát, chữ 8 câu bát vần với chữ 6 câu lục tiếp theo.

Thanh bằng, thanh trắc gồm những thanh nào?

Thanh bằng gồm thanh ngang (không dấu) và thanh huyền. Thanh trắc gồm thanh sắc, hỏi, ngã và nặng. Lục bát chỉ gieo vần ở thanh bằng.

Chữ thứ 6 và thứ 8 câu bát có phải khác thanh không?

Cả hai đều phải là thanh bằng. Trong thơ hay, chúng thường khác nhau, một chữ thanh huyền và một chữ thanh ngang, để câu không đều đều. Đây là xu hướng chứ không phải luật bắt buộc, nhiều câu ca dao không theo.

Lục bát ngắt nhịp thế nào?

Nhịp phổ biến là nhịp chẵn 2/2/2 cho câu lục và 2/2/2/2 cho câu bát. Để tạo điểm nhấn, người làm thơ có thể ngắt 3/3 ở câu lục và 4/4 ở câu bát, thường kèm tiểu đối.

Ca dao sai luật lục bát có phải là lỗi không?

Không. Ca dao có rất nhiều lục bát biến thể, như vần dời sang chữ 4 câu bát hay câu dài hơn tám chữ. Đó là đặc điểm của thơ dân gian gắn với lời hát, không phải lỗi.

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói

Bài viết liên quan

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói Xem app khác