Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc là hai khúc ngâm thế kỷ 18 được xem là đỉnh cao của thể song thất lục bát. Chinh phụ ngâm là lời người vợ có chồng đi đánh trận, nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn, bản diễn Nôm phổ biến dài 408 câu, thường gắn với Đoàn Thị Điểm nhưng có ý kiến cho là của Phan Huy Ích, đến nay còn tranh luận. Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, dài 356 câu, là lời người cung nữ bị vua ruồng bỏ, viết thẳng bằng chữ Nôm. Hai tác phẩm cùng thể thơ, cùng giọng than, nhưng một bên là nỗi nhớ chồng, một bên là nỗi oán số phận và suy ngẫm về kiếp người.
Ngâm khúc là gì
Ngâm khúc là thể loại trữ tình dài của văn học trung đại Việt Nam, thường viết bằng song thất lục bát. Nhân vật trong ngâm khúc tự nói về nỗi lòng mình, gần như không có cốt truyện: không có nhiều sự kiện, chỉ có những trạng thái tâm hồn nối nhau. Tên gọi "ngâm" cho biết tác phẩm được đọc theo lối ngâm, giọng kéo dài, hợp với nhịp 3/4 và vần trắc của câu thất.
Thế kỷ 18 là thời kỳ nở rộ của ngâm khúc, cũng là thời xã hội nhiều biến động: chiến tranh, loạn lạc, các cuộc khởi nghĩa nông dân, cung đình xa hoa mà bất an. Con người cá nhân, nhất là người phụ nữ, bắt đầu được văn chương nói đến với nỗi đau riêng.
Chinh phụ ngâm
Nguyên tác và bản diễn Nôm
Nguyên tác của Chinh phụ ngâm là bài ngâm chữ Hán của Đặng Trần Côn, một nho sĩ thế kỷ 18, viết theo lối trường đoản cú, câu dài ngắn xen nhau. Tác phẩm ra đời trong bối cảnh chiến tranh liên miên, nhiều người đàn ông phải ra trận.
Từ nguyên tác ấy có nhiều bản diễn Nôm. Bản phổ biến nhất, dài 408 câu song thất lục bát, là bản được học trong nhà trường. Về người dịch bản này, ý kiến truyền thống gắn với nữ sĩ Đoàn Thị Điểm; một số nhà nghiên cứu khác cho là của Phan Huy Ích. Cuộc tranh luận chưa ngã ngũ, nên khi viết chỉ nên ghi "bản diễn Nôm thường gắn với Đoàn Thị Điểm, có ý kiến cho là của Phan Huy Ích".
Nội dung
Người chinh phụ tiễn chồng ra trận, rồi ở nhà một mình qua năm tháng. Tác phẩm đi qua các trạng thái: cảnh tiễn đưa, nỗi nhớ theo bước chồng, tưởng tượng cảnh chiến trường, nỗi cô đơn trong phòng vắng, những giấc mơ gặp chồng, ước mong ngày đoàn tụ. Không có trận đánh nào được kể chi tiết; chiến tranh hiện ra qua nỗi lo và nỗi nhớ của người ở lại.
Những câu hay được dẫn
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Đây là khổ thơ nổi tiếng nhất. Chữ "thấy" cuối câu đầu được nhắc lại ở đầu câu hai, "ngàn dâu" cuối câu hai được nhắc lại ở đầu câu ba. Lối điệp nối ấy giống như ánh mắt người vợ nhìn theo, càng nhìn càng chỉ thấy một màu xanh vô tận của bãi dâu. Câu cuối là một câu hỏi không có lời đáp.
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Người vợ một mình trong đêm chỉ có ngọn đèn làm bạn, nhưng đèn thì vô tri. Hai câu cho thấy sự cô đơn tuyệt đối.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Một khắc dài như một năm, nỗi sầu dài như biển. Thời gian được đo bằng nỗi nhớ chứ không bằng đồng hồ.
Cung oán ngâm khúc
Tác giả
Nguyễn Gia Thiều (1741–1798), tước Ôn Như hầu, xuất thân dòng dõi quý tộc, có quan hệ thân thuộc với phủ chúa Trịnh. Ông sống gần cung đình, hiểu đời sống trong cung, và tác phẩm của ông vì thế có chiều sâu về cái xa hoa lẫn cái phù du của chốn ấy.
Nội dung
Người cung nữ tài sắc được vua yêu chiều, rồi bị ruồng bỏ, sống trong cảnh lạnh lẽo nơi cung cấm. Nhưng tác phẩm không chỉ là lời oán một ông vua. Từ nỗi đau riêng, nhân vật đi đến những suy ngẫm về kiếp người: danh lợi, sắc đẹp, vinh hoa đều chóng tàn; đời là bể khổ. Màu sắc triết lý, nhiều chỗ mang tư tưởng Phật giáo, là điểm làm Cung oán ngâm khúc khác Chinh phụ ngâm.
Những câu hay được dẫn
Trải vách quế gió vàng hiu hắt,
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng.
Hai câu mở đầu đã đặt người đọc vào căn phòng lạnh: vách cung sơn quế, gió thu (gió vàng) thổi hiu hắt, tấm áo múa lạnh như đồng. Cái lạnh của vật là cái lạnh của lòng.
Thảo nào khi mới chôn nhau,
Đã mang tiếng khóc bưng đầu mà ra.
Tiếng khóc chào đời của đứa trẻ được đọc thành điềm báo: sinh ra là đã vào bể khổ. Đây là một trong những câu triết lý được trích nhiều nhất của văn học trung đại.
Gót danh lợi bùn pha sắc xám,
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu.
Người đuổi theo danh lợi thì gót chân lấm bùn, mặt dãi dầu sương gió. Hình ảnh rất cụ thể cho một ý trừu tượng.
Đặt hai tác phẩm cạnh nhau
| Chinh phụ ngâm | Cung oán ngâm khúc | |
|---|---|---|
| Tác giả | Nguyên tác chữ Hán: Đặng Trần Côn; bản Nôm: thường gắn Đoàn Thị Điểm, có ý kiến cho là Phan Huy Ích | Nguyễn Gia Thiều |
| Ngôn ngữ gốc | Chữ Hán, rồi diễn Nôm | Viết thẳng bằng chữ Nôm |
| Độ dài (bản phổ biến) | 408 câu | 356 câu |
| Nhân vật | Người vợ có chồng ra trận | Người cung nữ bị ruồng bỏ |
| Cảm xúc chính | Nhớ thương, cô đơn, mong đoàn tụ | Oán hận, chán chường, suy ngẫm kiếp người |
| Ngôn ngữ | Mềm mại, trong sáng, nhiều điệp ngữ | Trau chuốt, nhiều điển cố, từ Hán Việt, giọng triết lý |
Vì sao gọi là "đỉnh cao" của song thất lục bát
- Khai thác hết khả năng của thể thơ: cặp vần trắc giữa hai câu thất được dùng đúng chỗ cảm xúc dồn nén, cặp lục bát kéo ra thành tiếng thở dài.
- Nhịp 3/4 được dùng tinh tế: ba chữ đầu câu thất thường là hình ảnh, bốn chữ sau là cảm xúc, tạo những câu vừa có cảnh vừa có tình.
- Điệp ngữ, điệp vòng: nhất là trong Chinh phụ ngâm, chữ cuối câu trước được nhắc ở đầu câu sau, tạo cảm giác quẩn quanh không lối thoát.
- Ảnh hưởng về sau: nhiều khúc ngâm thế kỷ 18–19 học theo, và các đoạn trích hai tác phẩm này đến nay vẫn nằm trong chương trình Ngữ văn.
Đọc hai khúc ngâm hôm nay
Đọc Chinh phụ ngâm hôm nay không phải để nghe chuyện chiến trận, mà để thấy một cách nói về nỗi nhớ rất tinh tế: không kêu gào, chỉ có đèn, có ngàn dâu, có khắc giờ dài như năm. Đọc Cung oán ngâm khúc là đọc một trong những văn bản triết lý sớm nhất bằng tiếng Việt, nơi một con người tự hỏi về ý nghĩa của danh lợi và sắc đẹp.
Gợi ý để đi tiếp:
- Tìm bản có chú giải kỹ, vì cả hai tác phẩm dùng nhiều điển cố. Không có chú thích sẽ bỏ lỡ nhiều tầng nghĩa.
- Đọc thử một đoạn nguyên tác chữ Hán Chinh phụ ngâm (qua bản phiên âm) cạnh bản Nôm để thấy nghệ thuật chuyển ngữ.
- Nghe ngâm: các nghệ nhân ngâm thơ thường chọn những khổ nổi tiếng nhất của hai tác phẩm.
- Xem bài "Song thất lục bát: luật thơ và cách đọc" cùng danh mục để nắm luật trước khi đọc.
Câu hỏi thường gặp
Ai là tác giả Chinh phụ ngâm?
Nguyên tác chữ Hán của Chinh phụ ngâm là của Đặng Trần Côn. Bản diễn Nôm phổ biến thường được gắn với Đoàn Thị Điểm, nhưng có ý kiến cho là của Phan Huy Ích, và vấn đề này vẫn còn tranh luận.
Chinh phụ ngâm bản Nôm có bao nhiêu câu?
Bản diễn Nôm phổ biến nhất dài 408 câu, viết theo thể song thất lục bát. Nguyên tác chữ Hán viết theo lối trường đoản cú, câu dài ngắn khác nhau.
Cung oán ngâm khúc của ai, nói về gì?
Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, dài 356 câu song thất lục bát. Tác phẩm là lời người cung nữ bị vua ruồng bỏ, từ nỗi đau riêng đi đến suy ngẫm về sự phù du của danh lợi, sắc đẹp và kiếp người.
Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc khác nhau thế nào?
Chinh phụ ngâm là nỗi nhớ chồng của người vợ lính, giọng mềm mại, nhiều điệp ngữ. Cung oán ngâm khúc là nỗi oán của cung nữ, ngôn ngữ trau chuốt, nhiều điển cố và giọng triết lý. Cả hai đều viết bằng song thất lục bát.
"Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai" nằm trong tác phẩm nào?
Câu này nằm trong Chinh phụ ngâm, ở khổ "Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy / Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu / Ngàn dâu xanh ngắt một màu / Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?". Đây là khổ thơ nổi tiếng nhất của tác phẩm.