Lời NóiWiki
Tìm
Từ cổ trong ca dao

Mô, tê, răng, rứa và hổng, nghen: phương ngữ trong ca dao

Mô là đâu, tê là kia, răng là sao, rứa là thế, vậy: tiếng miền Trung. Hổng là không, nghen là nhé: tiếng Nam Bộ. Biết vài chục từ địa phương là đọc được phần lớn ca dao.

Mô, tê, răng, rứa và hổng, nghen: phương ngữ trong ca dao

Mô, tê, răng, rứa là những từ địa phương của miền Trung, từ xứ Nghệ đến xứ Huế: "mô" là đâu, "tê" là kia, "răng" là sao, "rứa" là thế, vậy. Hổng, nghen là tiếng Nam Bộ: "hổng" là không, "nghen" là nhé. Ca dao của mỗi vùng giữ nguyên những từ ấy, nên người vùng khác đọc dễ vấp. Biết vài chục từ địa phương thường gặp là đủ để đọc phần lớn ca dao miền Trung và Nam Bộ.

Bộ từ miền Trung: mô, tê, răng, rứa

Phương ngữ Bắc Trung Bộ và Trung Trung Bộ có một nhóm từ chỉ nơi chốn, cách thức rất đặc trưng. Bảng dưới đây gom những từ hay gặp nhất:

Từ địa phươngTiếng phổ thôngVí dụ trong lời nói
môđâuđi mô? (đi đâu?)
têkiabên tê (bên kia)
ninàybên ni, bữa ni (bên này, hôm nay)
nớấy, đóngười nớ (người ấy)
răngsaolàm răng? (làm sao?)
rứathế, vậyrứa hả? (thế à?)
rithế nàylàm ri (làm thế này)
chigìlàm chi? (làm gì?)
chừbây giờbây chừ (bây giờ)
mạ, bọ, omẹ, bố, cômạ ơi, o nớ

Có thể nhớ theo cặp: ni – nớ – tê là này – ấy – kia, chỉ ba khoảng cách gần, vừa, xa; ri – rứa là thế này – thế ấy. Trong các tuyển tập, người sưu tầm thường giữ nguyên những từ này khi ghi ca dao miền Trung để giữ giọng của vùng.

Một câu ca dao miền Trung: bên ni, bên tê

Câu ca dao miền Trung được dẫn nhiều nhất có dùng "ni" và "tê":

Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,
Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông.
Thân em như chẽn lúa đòng đòng,
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.

Hai câu đầu dài, đảo qua đảo lại "bên ni – bên tê", "mênh mông bát ngát – bát ngát mênh mông", như ánh mắt người đứng giữa cánh đồng nhìn sang hai phía. Hai câu sau là cặp lục bát quen, ví người con gái với chẽn lúa non. Đây là ví dụ đẹp cho lối ca dao miền Trung: từ địa phương không làm câu khó hiểu mà làm câu có giọng riêng. "Ngó" là nhìn, cũng là một từ quen ở miền Trung và miền Nam.

Một câu ca dao khác của vùng Bình Trị Thiên giữ nhiều từ địa danh, địa hình:

Thương em anh cũng muốn vô,
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.

Truông là vùng đất hoang, cây bụi rậm rạp mà đường đi phải xuyên qua; truông nhà Hồ xưa nổi tiếng là nơi đường sá hiểm trở. Phá là vùng nước lợ rộng ven biển, nối với biển qua cửa; phá Tam Giang ở Huế nổi tiếng sóng gió. "Vô" là vào, cách nói của người miền Trung khi đi về phía Nam. Câu ca dao nói lòng muốn đến với người thương mà đường đi đầy trắc trở.

Bộ từ Nam Bộ: hổng, nghen, nè, ví dầu

Phương ngữ Nam Bộ có những từ khác hẳn:

Từ địa phươngTiếng phổ thôngGhi chú
hổng, hôngkhônghổng biết (không biết)
nghennhénhớ nghen (nhớ nhé)
nènàyđây nè
đặngđược, để"chẳng đặng" là chẳng được
ví dầuví thử, giả sửmở đầu nhiều câu ca dao
giả đògiả vờgiả đò ngó lơ
má, ba, tíamẹ, bốmá ơi
lumờngọn đèn lu
mầnlàmmần ăn (làm ăn), cũng gặp ở xứ Nghệ

Ca dao Nam Bộ dùng những từ này rất tự nhiên:

Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi.

"Ví dầu" mở câu như một lời giả định: giả sử cầu ván đóng đinh chắc chắn, thì cầu tre lắt lẻo vẫn khó đi. Câu ca dao này về sau thành câu mở đầu của điệu hò, điệu lý quen thuộc.

Thò tay mà ngắt ngọn ngò,
Thương em đứt ruột, giả đò ngó lơ.

"Giả đò ngó lơ" là giả vờ nhìn sang chỗ khác. Thương đến đứt ruột mà ngoài mặt làm như không thấy: một cách tỏ tình kín đáo, rất Nam Bộ. "Ngò" là rau mùi.

Má ơi đừng gả con xa,
Chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu?

Lời người con gái xin mẹ đừng gả mình về nơi xa, nơi rừng sâu chỉ nghe tiếng chim, tiếng vượn, nhớ nhà cũng không biết đường về. Tiếng "má" làm lời xin gần gũi như lời nói thường.

Vì sao miền Trung giữ nhiều từ lạ

Nhiều nhà ngôn ngữ học cho rằng phương ngữ Bắc Trung Bộ, nhất là vùng Nghệ Tĩnh, giữ lại khá nhiều lớp từ cổ của tiếng Việt mà miền Bắc đã thay đổi. Một số từ nghe "lạ" với người Hà Nội hôm nay có thể từng phổ biến hơn trong tiếng Việt xưa. Các nghiên cứu về lịch sử tiếng Việt vẫn tiếp tục bàn chi tiết từng từ, nên khi nói nguồn gốc một từ cụ thể, cần dựa vào công trình chuyên ngành, không nên tự suy đoán.

Phương ngữ Nam Bộ thì hình thành cùng quá trình người Việt vào khai phá đất phương Nam từ thế kỷ 17 trở đi, mang theo tiếng nói miền Trung, rồi tiếp xúc với tiếng Khmer, tiếng Hoa và về sau là tiếng Pháp. Một số từ Nam Bộ vì thế gần với từ miền Trung, như "mần", "ngó", "vô".

Đọc ca dao có phương ngữ cho đúng

  • Đừng "chữa" từ địa phương thành từ phổ thông. Chép "đứng bên này đồng, ngó bên kia đồng" là làm mất giọng của câu. Khi trích, giữ nguyên từ địa phương rồi giải nghĩa bên cạnh.
  • Đừng tưởng từ địa phương là lỗi chính tả. "Răng" là sao chứ không phải cái răng; "nớ" không phải chữ "nó" gõ sai.
  • Chú ý từ trùng âm. "Chi" ở miền Trung là gì, ở miền Bắc lại là một từ khác; "o" là cô chứ không phải tiếng kêu.
  • Xác định vùng trước khi tra. Câu có "mô, tê" thì tra phương ngữ miền Trung; câu có "hổng, nghen, bậu" thì tra phương ngữ Nam Bộ.

Góc nhìn hôm nay

Phương ngữ không phải tiếng nói "quê" cần sửa, mà là kho từ quý của tiếng Việt. Ca dao giữ được giọng của từng vùng chính là nhờ người sưu tầm không chữa lời người hát. Người đọc hôm nay có thể học được rất nhiều về một vùng đất chỉ qua vài từ địa phương trong câu ca dao của vùng ấy.

Muốn tra từ địa phương, có thể tìm các từ điển phương ngữ đã xuất bản, như từ điển tiếng Nghệ, từ điển từ ngữ Nam Bộ, và phần ghi "phương ngữ" trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên. Còn muốn nghe tận tai, không gì bằng nghe hò Huế, ví dặm Nghệ Tĩnh hay đờn ca tài tử Nam Bộ, nơi những từ này vẫn sống trong lời hát.

Câu hỏi thường gặp

Mô tê răng rứa nghĩa là gì?

Đây là những từ địa phương miền Trung: "mô" là đâu, "tê" là kia, "răng" là sao, "rứa" là thế, vậy. Ví dụ "đi mô" là đi đâu, "làm răng" là làm sao, "rứa hả" là thế à. Ca dao miền Trung giữ nguyên những từ này.

Ni, nớ, tê khác nhau thế nào?

Ba từ chỉ ba khoảng cách: "ni" là này (gần), "nớ" là ấy, đó (vừa), "tê" là kia (xa). Câu ca dao "Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng" dùng "ni" và "tê" để chỉ hai phía cánh đồng.

Hổng và nghen là tiếng vùng nào?

"Hổng" (không) và "nghen" (nhé) là tiếng Nam Bộ. Phương ngữ Nam Bộ còn có "nè" (này), "đặng" (được), "ví dầu" (ví thử), "giả đò" (giả vờ), "má" (mẹ).

Truông và phá là gì?

"Truông" là vùng đất hoang, cây bụi rậm mà đường đi phải xuyên qua. "Phá" là vùng nước lợ rộng ven biển, nối với biển qua cửa. Câu ca dao "Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang" nói về hai chặng đường hiểm trở xưa.

Vì sao tiếng Nghệ có nhiều từ lạ?

Nhiều nhà ngôn ngữ học cho rằng phương ngữ Nghệ Tĩnh giữ lại nhiều lớp từ cổ mà tiếng Việt miền Bắc đã thay đổi. Vì thế một số từ nghe lạ với người vùng khác có thể từng phổ biến hơn trong tiếng Việt xưa.

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói

Bài viết liên quan

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói Xem app khác