Mô, tê, răng, rứa là những từ địa phương của miền Trung, từ xứ Nghệ đến xứ Huế: "mô" là đâu, "tê" là kia, "răng" là sao, "rứa" là thế, vậy. Hổng, nghen là tiếng Nam Bộ: "hổng" là không, "nghen" là nhé. Ca dao của mỗi vùng giữ nguyên những từ ấy, nên người vùng khác đọc dễ vấp. Biết vài chục từ địa phương thường gặp là đủ để đọc phần lớn ca dao miền Trung và Nam Bộ.
Bộ từ miền Trung: mô, tê, răng, rứa
Phương ngữ Bắc Trung Bộ và Trung Trung Bộ có một nhóm từ chỉ nơi chốn, cách thức rất đặc trưng. Bảng dưới đây gom những từ hay gặp nhất:
| Từ địa phương | Tiếng phổ thông | Ví dụ trong lời nói |
|---|---|---|
| mô | đâu | đi mô? (đi đâu?) |
| tê | kia | bên tê (bên kia) |
| ni | này | bên ni, bữa ni (bên này, hôm nay) |
| nớ | ấy, đó | người nớ (người ấy) |
| răng | sao | làm răng? (làm sao?) |
| rứa | thế, vậy | rứa hả? (thế à?) |
| ri | thế này | làm ri (làm thế này) |
| chi | gì | làm chi? (làm gì?) |
| chừ | bây giờ | bây chừ (bây giờ) |
| mạ, bọ, o | mẹ, bố, cô | mạ ơi, o nớ |
Có thể nhớ theo cặp: ni – nớ – tê là này – ấy – kia, chỉ ba khoảng cách gần, vừa, xa; ri – rứa là thế này – thế ấy. Trong các tuyển tập, người sưu tầm thường giữ nguyên những từ này khi ghi ca dao miền Trung để giữ giọng của vùng.
Một câu ca dao miền Trung: bên ni, bên tê
Câu ca dao miền Trung được dẫn nhiều nhất có dùng "ni" và "tê":
Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,
Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông.
Thân em như chẽn lúa đòng đòng,
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.
Hai câu đầu dài, đảo qua đảo lại "bên ni – bên tê", "mênh mông bát ngát – bát ngát mênh mông", như ánh mắt người đứng giữa cánh đồng nhìn sang hai phía. Hai câu sau là cặp lục bát quen, ví người con gái với chẽn lúa non. Đây là ví dụ đẹp cho lối ca dao miền Trung: từ địa phương không làm câu khó hiểu mà làm câu có giọng riêng. "Ngó" là nhìn, cũng là một từ quen ở miền Trung và miền Nam.
Một câu ca dao khác của vùng Bình Trị Thiên giữ nhiều từ địa danh, địa hình:
Thương em anh cũng muốn vô,
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.
Truông là vùng đất hoang, cây bụi rậm rạp mà đường đi phải xuyên qua; truông nhà Hồ xưa nổi tiếng là nơi đường sá hiểm trở. Phá là vùng nước lợ rộng ven biển, nối với biển qua cửa; phá Tam Giang ở Huế nổi tiếng sóng gió. "Vô" là vào, cách nói của người miền Trung khi đi về phía Nam. Câu ca dao nói lòng muốn đến với người thương mà đường đi đầy trắc trở.
Bộ từ Nam Bộ: hổng, nghen, nè, ví dầu
Phương ngữ Nam Bộ có những từ khác hẳn:
| Từ địa phương | Tiếng phổ thông | Ghi chú |
|---|---|---|
| hổng, hông | không | hổng biết (không biết) |
| nghen | nhé | nhớ nghen (nhớ nhé) |
| nè | này | đây nè |
| đặng | được, để | "chẳng đặng" là chẳng được |
| ví dầu | ví thử, giả sử | mở đầu nhiều câu ca dao |
| giả đò | giả vờ | giả đò ngó lơ |
| má, ba, tía | mẹ, bố | má ơi |
| lu | mờ | ngọn đèn lu |
| mần | làm | mần ăn (làm ăn), cũng gặp ở xứ Nghệ |
Ca dao Nam Bộ dùng những từ này rất tự nhiên:
Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi.
"Ví dầu" mở câu như một lời giả định: giả sử cầu ván đóng đinh chắc chắn, thì cầu tre lắt lẻo vẫn khó đi. Câu ca dao này về sau thành câu mở đầu của điệu hò, điệu lý quen thuộc.
Thò tay mà ngắt ngọn ngò,
Thương em đứt ruột, giả đò ngó lơ.
"Giả đò ngó lơ" là giả vờ nhìn sang chỗ khác. Thương đến đứt ruột mà ngoài mặt làm như không thấy: một cách tỏ tình kín đáo, rất Nam Bộ. "Ngò" là rau mùi.
Má ơi đừng gả con xa,
Chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu?
Lời người con gái xin mẹ đừng gả mình về nơi xa, nơi rừng sâu chỉ nghe tiếng chim, tiếng vượn, nhớ nhà cũng không biết đường về. Tiếng "má" làm lời xin gần gũi như lời nói thường.
Vì sao miền Trung giữ nhiều từ lạ
Nhiều nhà ngôn ngữ học cho rằng phương ngữ Bắc Trung Bộ, nhất là vùng Nghệ Tĩnh, giữ lại khá nhiều lớp từ cổ của tiếng Việt mà miền Bắc đã thay đổi. Một số từ nghe "lạ" với người Hà Nội hôm nay có thể từng phổ biến hơn trong tiếng Việt xưa. Các nghiên cứu về lịch sử tiếng Việt vẫn tiếp tục bàn chi tiết từng từ, nên khi nói nguồn gốc một từ cụ thể, cần dựa vào công trình chuyên ngành, không nên tự suy đoán.
Phương ngữ Nam Bộ thì hình thành cùng quá trình người Việt vào khai phá đất phương Nam từ thế kỷ 17 trở đi, mang theo tiếng nói miền Trung, rồi tiếp xúc với tiếng Khmer, tiếng Hoa và về sau là tiếng Pháp. Một số từ Nam Bộ vì thế gần với từ miền Trung, như "mần", "ngó", "vô".
Đọc ca dao có phương ngữ cho đúng
- Đừng "chữa" từ địa phương thành từ phổ thông. Chép "đứng bên này đồng, ngó bên kia đồng" là làm mất giọng của câu. Khi trích, giữ nguyên từ địa phương rồi giải nghĩa bên cạnh.
- Đừng tưởng từ địa phương là lỗi chính tả. "Răng" là sao chứ không phải cái răng; "nớ" không phải chữ "nó" gõ sai.
- Chú ý từ trùng âm. "Chi" ở miền Trung là gì, ở miền Bắc lại là một từ khác; "o" là cô chứ không phải tiếng kêu.
- Xác định vùng trước khi tra. Câu có "mô, tê" thì tra phương ngữ miền Trung; câu có "hổng, nghen, bậu" thì tra phương ngữ Nam Bộ.
Góc nhìn hôm nay
Phương ngữ không phải tiếng nói "quê" cần sửa, mà là kho từ quý của tiếng Việt. Ca dao giữ được giọng của từng vùng chính là nhờ người sưu tầm không chữa lời người hát. Người đọc hôm nay có thể học được rất nhiều về một vùng đất chỉ qua vài từ địa phương trong câu ca dao của vùng ấy.
Muốn tra từ địa phương, có thể tìm các từ điển phương ngữ đã xuất bản, như từ điển tiếng Nghệ, từ điển từ ngữ Nam Bộ, và phần ghi "phương ngữ" trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên. Còn muốn nghe tận tai, không gì bằng nghe hò Huế, ví dặm Nghệ Tĩnh hay đờn ca tài tử Nam Bộ, nơi những từ này vẫn sống trong lời hát.
Câu hỏi thường gặp
Mô tê răng rứa nghĩa là gì?
Đây là những từ địa phương miền Trung: "mô" là đâu, "tê" là kia, "răng" là sao, "rứa" là thế, vậy. Ví dụ "đi mô" là đi đâu, "làm răng" là làm sao, "rứa hả" là thế à. Ca dao miền Trung giữ nguyên những từ này.
Ni, nớ, tê khác nhau thế nào?
Ba từ chỉ ba khoảng cách: "ni" là này (gần), "nớ" là ấy, đó (vừa), "tê" là kia (xa). Câu ca dao "Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng" dùng "ni" và "tê" để chỉ hai phía cánh đồng.
Hổng và nghen là tiếng vùng nào?
"Hổng" (không) và "nghen" (nhé) là tiếng Nam Bộ. Phương ngữ Nam Bộ còn có "nè" (này), "đặng" (được), "ví dầu" (ví thử), "giả đò" (giả vờ), "má" (mẹ).
Truông và phá là gì?
"Truông" là vùng đất hoang, cây bụi rậm mà đường đi phải xuyên qua. "Phá" là vùng nước lợ rộng ven biển, nối với biển qua cửa. Câu ca dao "Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang" nói về hai chặng đường hiểm trở xưa.
Vì sao tiếng Nghệ có nhiều từ lạ?
Nhiều nhà ngôn ngữ học cho rằng phương ngữ Nghệ Tĩnh giữ lại nhiều lớp từ cổ mà tiếng Việt miền Bắc đã thay đổi. Vì thế một số từ nghe lạ với người vùng khác có thể từng phổ biến hơn trong tiếng Việt xưa.