Lời NóiWiki
Tìm
Từ cổ trong ca dao

Khung cửi, con thoi, guồng tơ: nghề dệt trong ca dao, tục ngữ

Khung cửi là khung gỗ dệt vải, con thoi mang sợi ngang chạy qua lại, guồng tơ cuốn tơ từ kén. Nghề dệt để lại thoi đưa, xe duyên, tơ hồng, rối như tơ vò.

Khung cửi, con thoi, guồng tơ: nghề dệt trong ca dao, tục ngữ

Khung cửi là khung gỗ để dệt vải, con thoi là ống gỗ nhỏ mang sợi ngang luồn qua lại giữa các sợi dọc, còn guồng tơ là khung quay để cuốn sợi tơ kéo từ kén tằm. Nghề tằm tang, canh cửi từng có mặt ở rất nhiều làng Việt, nên để lại cả một lớp từ trong ca dao, tục ngữ: "thoi đưa" chỉ thời gian trôi nhanh, "xe duyên" và "tơ hồng" chỉ chuyện nhân duyên, "rối như tơ vò" chỉ sự bối rối. Hiểu nghề dệt là hiểu vì sao người Việt nói về thời gian và tình duyên bằng sợi tơ.

Từ con tằm đến sợi tơ

Muốn có tơ phải trồng dâu, nuôi tằm. Con tằm ăn lá dâu, lớn qua mấy lứa tuổi rồi nhả tơ làm kén. Người nuôi tằm rải lá dâu trên nong tằm, khi tằm chín thì đưa lên né, một tấm phên hoặc bó rơm để tằm bám vào làm kén. Kén đem ươm: thả vào nồi nước nóng, tìm đầu sợi rồi kéo ra, cuốn lên guồng. Sợi tơ sau đó được xe lại cho bền, rồi mới lên khung cửi.

Từng công đoạn ấy đều để lại dấu vết trong lời nói:

  • Nuôi tằm ăn cơm đứng. Tằm ăn suốt ngày đêm, người nuôi phải liên tục hái dâu, rải dâu, bận đến mức ăn cơm cũng không ngồi được. Câu tục ngữ nói nghề nuôi tằm vất vả.
  • Như tằm ăn rỗi. "Rỗi" là giai đoạn tằm ăn khoẻ nhất trước khi chín. Người ta ví ai ăn nhanh, ăn nhiều như tằm ăn rỗi.
  • Tằm ăn dâu. Tằm ăn lá dâu từ mép vào, chậm mà đều, hết lá lúc nào không biết. Cách nói này chỉ sự lấn dần từng chút.

Cảnh ruộng dâu còn đi vào văn chương bác học. Câu thứ ba và thứ tư của Truyện Kiều, ngay sau "Trăm năm trong cõi người ta / Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau", là:

Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

"Bể dâu" rút từ thành ngữ Hán thương hải tang điền: biển xanh hoá ruộng dâu, chỉ cuộc đời thay đổi lớn lao. Chữ "bể" ở đây là biển, chữ "dâu" là cây dâu nuôi tằm.

Khung cửi, go, thoi, suốt

Khung cửi là bộ khung gỗ lớn, người dệt ngồi phía trước. Trên khung căng sẵn hàng trăm sợi dọc song song. Bộ go nâng hạ từng nhóm sợi dọc để tạo khe hở. Người dệt luồn con thoi qua khe ấy; trong thoi có cái suốt cuốn sợi ngang. Thoi chạy qua một lượt là một sợi ngang được đặt vào; dập lược cho chặt, đổi go, rồi đưa thoi về. Cứ thế qua lại hàng nghìn lần mới thành tấm vải.

Bộ phậnLà gìTừ ngữ còn lại
Khung cửiKhung gỗ dệt vảicanh cửi, dệt cửi
GoBộ phận nâng hạ sợi dọc"lên go" trong nghề dệt
ThoiỐng gỗ mang sợi ngang chạy qua lạithoi đưa, ngày tháng thoi đưa
SuốtỐng cuốn sợi nằm trong thoisuốt chỉ
GuồngKhung quay cuốn tơguồng tơ, guồng quay
NéPhên, bó rơm cho tằm làm kénlên né

Một chi tiết thú vị: hai chữ Hán kinh và vĩ, mà tiếng Việt dùng trong "kinh tuyến", "vĩ tuyến", vốn là tên sợi dọc và sợi ngang trên khung cửi. Người xưa nhìn quả đất như một tấm vải dệt bởi những đường dọc, đường ngang.

Thoi đưa: thời gian trôi trên khung cửi

Con thoi chạy qua lại rất nhanh, đều đặn, không ngừng. Người ngồi bên khung cửi suốt ngày nghe tiếng thoi lách cách. Từ đó mà có lối nói ngày tháng thoi đưa, thấm thoắt thoi đưa: thời gian trôi nhanh như con thoi đưa qua đưa lại, chưa kịp để ý đã hết một năm.

Hình ảnh này hay gặp trong văn chương cổ và trong thư từ, lời nói của người lớn tuổi: "thấm thoắt thoi đưa, mới đó mà đã mười năm". Người hôm nay dùng câu này mà ít ai còn hình dung được con thoi thật.

Xe tơ, tơ hồng: sợi chỉ của duyên

Động từ xe trong nghề dệt nghĩa là quay, vặn nhiều sợi nhỏ thành một sợi chắc hơn. Từ đó có những cụm chỉ chuyện vợ chồng: xe duyên, kết tóc xe tơ, nghĩa là buộc hai người lại với nhau.

Tơ hồng là sợi chỉ đỏ của ông Tơ và bà Nguyệt, hai vị thần se duyên trong tín ngưỡng dân gian. Hình ảnh này bắt nguồn từ truyện Nguyệt Lão thời Đường ở Trung Hoa, kể chuyện một chàng trai gặp ông lão ngồi dưới trăng, ôm túi chỉ đỏ dùng để buộc chân những người sẽ thành vợ chồng. Sang Việt Nam, ông Nguyệt Lão được gọi thân mật là ông Tơ, có thêm bà Nguyệt, và đi vào ca dao:

Ông Tơ ghét bỏ chi nhau,
Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi.

Lời trách ông Tơ, tức trách số phận: chưa kịp nên vợ nên chồng đã phải xa nhau. Câu trách nghe nhẹ mà buồn, vì trách một vị thần thì cũng là chấp nhận mình bất lực.

Ngược với sợi tơ buộc duyên là sợi tơ rối. Thành ngữ rối như tơ vò lấy hình ảnh mớ tơ bị vò nát, không tìm ra đầu sợi, để nói lòng dạ rối bời. Ai từng ươm tơ đều biết tìm đầu sợi là việc khó nhất.

Vải vóc và kim chỉ trong tục ngữ

Người dệt xưa phân biệt nhiều loại vải tơ: lụa mỏng mịn, lĩnh bóng mặt, the mỏng thưa, đũi sợi thô, gấm và vóc có hoa văn dệt nổi, nhiễu dệt bằng sợi xe săn nên mặt vải nổi gợn. Mỗi loại vào một câu:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.

"Nhiễu điều" là tấm nhiễu màu đỏ; "giá gương" là cái giá để gương. Tấm nhiễu phủ lên giá gương để giữ cho gương khỏi bụi, khỏi mờ. Câu ca dao lấy hình ảnh che chở ấy để nói người cùng một nước phải thương yêu, bảo vệ nhau.

  • Lụa tốt xem biên, người hiền xem mặt. "Biên" là mép tấm vải. Thợ dệt giỏi nhìn mép là biết lụa tốt hay xấu, như người từng trải nhìn mặt là đoán được người hiền.
  • Vải thưa che mắt thánh. Lấy tấm vải đan thưa mà định che mắt người tinh tường, tức giấu vụng về, ai cũng biết.
  • Mò kim đáy bể. Tìm cây kim dưới đáy biển, việc gần như không thể.

Chỉ đâu mà buộc ngang trời,
Thuốc đâu mà chữa con người lẳng lơ.

Sợi chỉ khâu vá trong tay người phụ nữ thành phép so sánh: có những việc không sợi chỉ nào buộc được, không thuốc nào chữa được.

Góc nhìn hôm nay

Khung cửi tay ngày nay chỉ còn ở một số làng nghề và trong các buổi trình diễn, còn phần lớn vải được dệt bằng máy. Nhưng từ ngữ của nghề dệt vẫn ở lại trong tiếng Việt: thoi đưa, xe duyên, tơ hồng, rối như tơ vò, kinh tuyến, vĩ tuyến. Mỗi lần dùng chúng là một lần nhắc lại nghề cổ ấy.

Muốn thấy khung cửi và nghe tiếng thoi thật, có thể ghé các làng dệt lụa, dệt vải ở đồng bằng Bắc Bộ và Nam Trung Bộ, hoặc khu trưng bày của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, nơi có khung dệt của nhiều dân tộc. Đứng nhìn con thoi chạy qua lại vài phút, người xem sẽ hiểu ngay vì sao người xưa nói "ngày tháng thoi đưa".

Câu hỏi thường gặp

Con thoi là gì?

Con thoi là ống gỗ nhỏ, hai đầu nhọn, bên trong có suốt cuốn sợi ngang. Khi dệt, người thợ đưa thoi chạy qua lại giữa các sợi dọc trên khung cửi để đặt sợi ngang vào. Từ đây có lối nói "ngày tháng thoi đưa" chỉ thời gian trôi nhanh.

Khung cửi là gì?

Khung cửi là bộ khung gỗ dùng để dệt vải, có căng sẵn các sợi dọc, kèm bộ go nâng hạ sợi và con thoi mang sợi ngang. "Canh cửi" là từ chỉ chung công việc dệt vải ngày xưa.

Ông Tơ bà Nguyệt là ai?

Ông Tơ bà Nguyệt là hai vị thần se duyên trong tín ngưỡng dân gian Việt, bắt nguồn từ truyện Nguyệt Lão thời Đường ở Trung Hoa. Ông lão dùng sợi chỉ đỏ, tức tơ hồng, buộc những người sẽ thành vợ chồng.

Nhiễu điều phủ lấy giá gương nghĩa là gì?

"Nhiễu điều" là tấm vải nhiễu màu đỏ, "giá gương" là cái giá để gương. Tấm nhiễu phủ lên giá gương để che chở cho gương. Câu ca dao dùng hình ảnh này để nói người cùng một nước phải thương yêu, bảo vệ nhau.

Nuôi tằm ăn cơm đứng nghĩa là gì?

Câu tục ngữ nói nghề nuôi tằm rất vất vả. Tằm ăn liên tục, người nuôi phải hái dâu, rải dâu suốt ngày đêm, bận đến mức ăn cơm cũng không kịp ngồi.

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói

Bài viết liên quan

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói Xem app khác