Hình ảnh người phụ nữ tảo tần trong ca dao, tục ngữ là người vợ, người mẹ vừa làm đồng vừa buôn gánh bán bưng để nuôi cả nhà, được gói trong các câu như "Nhà khó cậy vợ hiền", "Của chồng công vợ", "Gánh cực mà đổ lên non". Câu thơ được nhắc nhiều nhất về đề tài này lại không phải ca dao mà là thơ Tú Xương: "Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng". Đọc ca dao và thơ cạnh nhau sẽ thấy người phụ nữ làm ăn xưa vừa được thương, vừa được trọng, nhưng công sức của họ lại thường bị coi là chuyện đương nhiên.
Thành ngữ tả sự tảo tần
Trước khi đọc ca dao, nên điểm qua những thành ngữ mà ca dao, tục ngữ hay dùng để tả người đàn bà làm ăn:
| Thành ngữ | Nghĩa |
|---|---|
| Buôn gánh bán bưng | Buôn nhỏ, hàng hoá gánh trên vai hoặc bưng trên tay mà đi bán |
| Buôn thúng bán mẹt | Buôn bán nhỏ, hàng chỉ đựng vừa cái thúng, cái mẹt |
| Một nắng hai sương | Làm lụng ngoài trời từ sáng sớm đến tối mịt, dầm mưa dãi nắng |
| Đầu tắt mặt tối | Làm việc vất vả từ sáng đến tối, không có lúc nghỉ |
| Tay hòm chìa khoá | Người giữ tiền nong, của cải trong nhà |
| Thắt lưng buộc bụng | Nhịn ăn nhịn mặc để dành dụm |
"Tay hòm chìa khoá" là thành ngữ đáng chú ý: trong gia đình Việt xưa, người giữ tiền thường là người vợ. Đó là một quyền thật, đi kèm với một trách nhiệm rất nặng: lo cho đủ cái ăn trong nhà.
"Nhà khó cậy vợ hiền": tục ngữ trọng công người vợ
- "Nhà khó cậy vợ hiền, nước loạn nhờ tướng giỏi." Nhà nghèo trông vào người vợ đảm đang, như nước loạn trông vào tướng tài. So vợ với tướng là một sự đề cao rất lớn.
- "Của chồng công vợ." Của cải trong nhà tuy đứng tên người chồng, nhưng có công sức của người vợ. Câu này ngày nay hay được dẫn khi bàn về tài sản chung của vợ chồng.
- "Lệnh ông không bằng cồng bà." "Lệnh" là cái chiêng nhỏ để gõ báo lệnh, "cồng" là chiêng lớn; ý nói lời ông không nặng bằng lời bà. Câu hay dùng vui, nhưng cũng cho thấy trong thực tế nhiều nhà, người vợ quyết chuyện chi tiêu.
Ba câu này cho thấy dân gian không mù về vai trò người vợ, dù xã hội chính thống xếp phụ nữ dưới đàn ông.
"Quanh năm buôn bán ở mom sông": bài thơ Thương vợ
Đây là thơ có tác giả, không phải ca dao, nhưng không thể bỏ qua khi nói về người phụ nữ buôn bán. Trần Tế Xương (Tú Xương, 1870–1907), người Nam Định, viết bài Thương vợ về chính bà Tú:
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
"Mom sông" là doi đất nhô ra mép sông, nơi họp chợ, nơi đò cập bến. Câu thứ hai là câu tự trào nổi tiếng: chồng được xếp chung vào đám người bà Tú phải nuôi. Câu thứ ba mượn hình ảnh con cò lặn lội của ca dao; câu thứ tư tả cảnh chen chúc, cãi cọ ("eo sèo") lúc đò đông khách. Bốn câu đủ vẽ ra một ngày buôn bán vất vả của người đàn bà ven sông.
Con cò và người mẹ đi chợ
Hình ảnh con cò lặn lội mà Tú Xương mượn đến từ ca dao:
Cái cò lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.
Có bản chép "Con cò lặn lội bờ sông". Ở đây con cò chính là người vợ: gánh gạo tiễn chồng đi xa, vừa đi vừa khóc. Con cò trong ca dao có nhiều tầng nghĩa, từ người nông dân nghèo đến người mẹ, và có bài riêng ở mục lục bát và nghệ thuật ca dao. Trong đề tài này, chỉ cần nhớ: khi ca dao nói "con cò lặn lội", người nghe xưa thường nghĩ ngay đến dáng người đàn bà quẩy gánh đi trên bờ ruộng, bờ sông.
Nỗi cực trong lời than của chính người phụ nữ
Ca dao không chỉ là lời người khác thương người phụ nữ, mà còn là lời họ tự nói. Giọng than rất thẳng:
Gánh cực mà đổ lên non,
Còng lưng mà chạy, cực còn theo sau.
Câu ca dao phổ biến ở Nam Bộ, có nhiều dị bản ("cong lưng mà chạy", "cực còn chạy theo"). Cái cực được hình dung như một gánh hàng thật: đem đổ lên núi cho xong, mà chạy đến còng lưng nó vẫn đuổi theo. Ít câu nào tả sự nhọc nhằn không lối thoát rõ như vậy.
Có chồng chẳng được đi đâu,
Có con chẳng được đứng lâu một giờ.
Câu này nói về sự ràng buộc: lấy chồng có con rồi thì không còn lúc nào là của mình. Đọc chung với các câu trên, ta thấy người phụ nữ xưa vừa làm ra tiền, vừa lo việc nhà, vừa trông con, ba việc cùng lúc.
Một bài ca dao khác cho thấy công việc của người phụ nữ ở vị trí thấp trong gia đình nhiều thê thiếp: "Lấy chồng làm lẽ khổ thay, Đi cấy đi cày chị chẳng kể công". Người vợ lẽ làm lụng ngoài đồng mà công sức không được ai ghi nhận. Bài này cần đọc như một lời tố cáo của chính người trong cuộc, không phải lời khuyên.
Lao động mà vẫn duyên dáng
Không phải câu nào về người phụ nữ làm lụng cũng buồn. Có những câu ca dao bắt gặp cô gái giữa lúc làm việc và nhìn bằng con mắt trìu mến:
Hỡi cô tát nước bên đàng,
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?
Cô gái tát nước vào ruộng ban đêm, gàu nước múc lên có cả bóng trăng. Chàng trai đứng bên đường hỏi một câu vừa ngây ngô vừa tinh tế, mở đầu cho một cuộc làm quen. Câu này có nhiều bản tiếp theo, tuỳ người đối đáp. Lao động ở đây là bối cảnh cho tình yêu, cũng là cách ca dao tôn vinh người làm: đẹp nhất là lúc đang làm.
Góc nhìn hôm nay: đọc cho công bằng
Đọc ca dao về người phụ nữ tảo tần, dễ rơi vào một trong hai cực: hoặc chỉ ngợi ca đức hy sinh, hoặc chỉ thấy áp bức. Cách đọc công bằng là giữ cả hai. Ca dao ghi nhận người phụ nữ là trụ cột kinh tế thật sự của nhiều gia đình ("Nhà khó cậy vợ hiền", "Của chồng công vợ"). Ca dao cũng ghi lại nỗi cực không được chia sẻ ("Gánh cực mà đổ lên non"). Ngợi ca sự tảo tần không nên thành lý do để coi việc phụ nữ gánh hết mọi việc là đương nhiên.
Hôm nay, hình ảnh người đàn bà quẩy gánh hàng rong trên phố vẫn còn ở nhiều thành phố. Họ là người nối dài câu "buôn gánh bán bưng" vào đời sống hiện đại. Muốn đọc thêm, có thể tìm bài Thương vợ trong các tuyển tập thơ Tú Xương (trong sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông có bài phân tích kỹ), và phần ca dao về thân phận người phụ nữ trong bộ Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan. Các từ đồ dùng như quang gánh, thúng, mẹt có bài giải nghĩa ở mục từ cổ trong ca dao.
Câu hỏi thường gặp
Ca dao nào nói về người phụ nữ tảo tần?
Hay gặp là "Cái cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non", "Gánh cực mà đổ lên non, Còng lưng mà chạy cực còn theo sau", "Có chồng chẳng được đi đâu, Có con chẳng được đứng lâu một giờ", cùng các tục ngữ "Nhà khó cậy vợ hiền", "Của chồng công vợ".
Quanh năm buôn bán ở mom sông là của ai?
Đây là câu mở đầu bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương (Tú Xương), không phải ca dao. Bài thơ tả bà Tú buôn bán vất vả ở doi đất ven sông để nuôi năm con và chồng.
Mom sông là gì?
Mom sông là phần doi đất nhô ra mép sông, thường là nơi đò cập bến và người ta họp chợ, buôn bán. Chữ này nổi tiếng nhờ câu "Quanh năm buôn bán ở mom sông" của Tú Xương.
Của chồng công vợ nghĩa là gì?
Câu nói của cải trong nhà tuy thường đứng tên người chồng nhưng có công sức đóng góp của người vợ, nên là của chung. Câu thể hiện sự ghi nhận vai trò kinh tế của người phụ nữ trong gia đình.
Buôn gánh bán bưng là gì?
Là thành ngữ chỉ việc buôn bán nhỏ, hàng hoá gánh trên vai hoặc bưng trên tay đi bán dạo. Cùng nghĩa với "buôn thúng bán mẹt", thường dùng để tả người phụ nữ buôn bán vất vả nuôi gia đình.