Lời NóiWiki
Tìm
Lục bát & nghệ thuật ca dao

Hình ảnh con cò trong ca dao: người nông dân lam lũ và đồng quê

Con cò trong ca dao là hình ảnh người nông dân, nhất là người phụ nữ lam lũ, thân phận nhỏ bé bị dồn ép, và cũng là vẻ đẹp đồng quê trong lời ru, câu hò.

Hình ảnh con cò trong ca dao: người nông dân lam lũ và đồng quê

Trong ca dao, con cò thường là hình ảnh của người nông dân, nhất là người phụ nữ lam lũ: lặn lội kiếm ăn, chịu thương chịu khó, nhỏ bé trước rủi ro. Bên cạnh đó, cò còn là vẻ đẹp thanh thản của đồng quê và là nhân vật quen thuộc trong lời ru. Đọc ca dao về con cò là đọc một bức chân dung tập thể của người lao động Việt xưa, vẽ bằng hình ảnh một loài chim ai cũng thấy hằng ngày trên ruộng lúa.

Vì sao lại là con cò

Cò là loài chim gắn với ruộng nước, ao hồ, bờ sông, đúng những nơi người nông dân làm việc. Cò lội ruộng tìm tép, tìm cá nhỏ, chân lấm bùn, cổ cúi xuống mặt nước, giống hệt dáng người cấy lúa, người mò cua bắt ốc. Cò lại trắng, mảnh, thanh, nên vừa gợi sự lam lũ vừa gợi sự trong sạch. Một hình ảnh mang được cả hai nét ấy là hình ảnh lý tưởng cho ca dao.

Cò là người phụ nữ tảo tần

Cái cò lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.
Nàng về nuôi cái cùng con,
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.

Câu đầu là hứng: hình ảnh con cò lặn lội mở ra hình ảnh người vợ gánh gạo tiễn chồng. Chồng đi "trẩy" (đi xa, thường là đi lính, đi phu) lên Cao Bằng, nơi biên viễn xa xôi. Người vợ ở lại nuôi con. "Lặn lội" là chữ khoá: vất vả, dầm mưa dãi nắng, một mình gánh vác.

Hình ảnh này về sau đi vào thơ Trần Tế Xương. Trong bài "Thương vợ", ông viết về bà Tú buôn bán nuôi chồng con: "Lặn lội thân cò khi quãng vắng / Eo sèo mặt nước buổi đò đông." Tú Xương mượn đúng chữ "lặn lội" và "thân cò" của ca dao để nói về người vợ của mình, và người đọc nhận ra ngay nguồn gốc dân gian ấy.

Cò là thân phận nhỏ bé, bị dồn ép

Nước non lận đận một mình,
Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay.
Ai làm cho bể kia đầy,
Cho ao kia cạn cho gầy cò con?

Đây là một trong những câu ca dao về con cò được trích nhiều nhất. "Lên thác xuống ghềnh" là gian nan nối tiếp gian nan. Câu hỏi cuối là câu hỏi tố cáo: ai đã làm cho kẻ giàu càng giàu ("bể đầy"), kẻ nghèo càng nghèo ("ao cạn"), để con cò gầy đi? Không nói thẳng ai, nhưng người nghe hiểu là bất công xã hội.

Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Bình thường cò kiếm ăn ban ngày, còn kiếm ăn ban đêm là loài vạc. Con cò phải "đi ăn đêm" tức là đã bị dồn đến cùng, phải làm việc lúc người khác nghỉ. Rồi nó gặp nạn: đậu phải cành mềm, ngã xuống ao. Phần giữa bài là lời con cò van người cứu mình, và bài kết bằng hai câu nổi tiếng:

Có xáo thì xáo nước trong,
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.

Con cò chấp nhận cả cái chết, chỉ xin được chết trong sạch. Ở đây con cò là người lao động lương thiện, gặp nạn vì phải mưu sinh vất vả, đến lúc cùng đường vẫn giữ phẩm giá. Đây cũng là bài có dị bản ở câu đầu: có bản chép "Con cò mày đi ăn đêm".

Con cò ăn bãi rau răm,
Đắng cay chịu vậy, đãi đằng cùng ai.

Rau răm vị cay, cò ăn phải rau răm là nuốt đắng cay vào lòng. "Đãi đằng" là giãi bày. Nỗi khổ không có ai để kể.

Cò bị nhìn từ phía người có quyền

Cái cò, cái vạc, cái nông,
Sao mày giẫm lúa nhà ông hỡi cò?

Ở câu này giọng nói đổi hẳn: đó là lời "ông" chủ ruộng quát con cò. Bài ca dao dài hơn kể tiếp cuộc đối đáp, cò chối, đổ cho vạc, cho nông. Đọc qua thì như chuyện vui, nhưng có thể nhìn đó là cảnh người nhỏ bé bị bắt lỗi và tìm cách chống chế trước kẻ có quyền. Bài này cho thấy con cò không chỉ được thương xót, mà còn là nhân vật trong những câu chuyện có đối thoại.

Cò là vẻ đẹp đồng quê

Không phải câu ca dao nào về cò cũng buồn. Ở nhiều câu, cò là nét đẹp của cánh đồng, của quê hương:

Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh,
Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm.

Cánh đồng rộng đến mức cò bay mãi không phải vòng, nước đầy cá tôm. Đây là niềm tự hào về sự trù phú của đất phương Nam. Thành ngữ "cò bay thẳng cánh" cũng từ hình ảnh này mà ra, dùng để tả đồng ruộng mênh mông.

Con cò còn là nhân vật quen thuộc của dân ca: bài quan họ "Cò lả" mở bằng câu "Con cò bay lả bay la", một hình ảnh nhẹ nhàng, chập chờn.

Cò trong lời ru

Con cò có mặt trong rất nhiều lời ru ba miền. Người mẹ ru con bằng những câu về cò lặn lội, cò đi ăn đêm, có khi chính là những câu than thân ở trên. Đứa trẻ nghe tiếng ru chưa hiểu nghĩa, chỉ cảm được sự dịu dàng của giọng mẹ. Lớn lên, hình ảnh con cò gắn với ký ức về mẹ.

Từ lời ru ấy, nhà thơ Chế Lan Viên viết bài thơ "Con cò", trong đó hình ảnh con cò trong ca dao được nâng thành biểu tượng của tình mẹ theo con suốt đời. Đây là thơ có tác giả, được học trong chương trình Ngữ văn, và là ví dụ rõ về việc một hình ảnh ca dao được văn học hiện đại tiếp nối.

Bảng các nét nghĩa của con cò

Nét nghĩaCâu tiêu biểuGiọng
Người phụ nữ tảo tần"Cái cò lặn lội bờ sông"Thương cảm
Thân phận bị dồn ép"Ai làm cho bể kia đầy / Cho ao kia cạn cho gầy cò con"Xót xa, tố cáo
Người lương thiện gặp nạn"Con cò mà đi ăn đêm"Bi thương, giữ phẩm giá
Nỗi đắng cay không ai hay"Con cò ăn bãi rau răm"Cam chịu
Người nhỏ bé trước kẻ có quyền"Cái cò, cái vạc, cái nông"Đối đáp
Vẻ đẹp, sự trù phú đồng quê"Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh"Tự hào

Góc nhìn hôm nay

Ngày nay cánh đồng có cò ít hơn trước, nhưng hình ảnh con cò vẫn là biểu tượng mạnh nhất của nông thôn Việt trong văn chương. Một vài gợi ý để đi tiếp:

  • Đọc theo cặp: ca dao "Cái cò lặn lội bờ sông" cạnh bài "Thương vợ" của Tú Xương, rồi bài "Con cò" của Chế Lan Viên, để thấy một hình ảnh đi qua ba thời.
  • Ngắm cò thật: các sân chim, vườn cò ở đồng bằng sông Cửu Long hay vùng đồng bằng Bắc Bộ là nơi thấy cò về tổ lúc chiều, cảnh rất gần với ca dao.
  • Để ý cách gọi: "cái cò" (giọng Bắc, thân mật), "con cò", "thân cò", "cò con": mỗi cách gọi một sắc thái.
  • Đọc thêm: phần ca dao về người lao động trong bộ của Vũ Ngọc Phan.

Câu hỏi thường gặp

Hình ảnh con cò trong ca dao tượng trưng cho ai?

Con cò thường tượng trưng cho người nông dân, nhất là người phụ nữ lam lũ, chịu thương chịu khó. Cò cũng là hình ảnh của thân phận nhỏ bé bị dồn ép, của người lương thiện gặp nạn, và đôi khi là vẻ đẹp trù phú của đồng quê.

"Con cò mà đi ăn đêm" có ý nghĩa gì?

Cò vốn kiếm ăn ban ngày, phải đi ăn đêm tức là đã bị dồn đến cùng. Con cò gặp nạn vì mưu sinh vất vả, đến khi cùng đường chỉ xin "có xáo thì xáo nước trong", tức là giữ phẩm giá trong sạch đến cùng.

"Ai làm cho bể kia đầy, cho ao kia cạn cho gầy cò con" nghĩa là gì?

Đây là câu hỏi tố cáo bất công: ai làm cho kẻ giàu càng giàu ("bể đầy"), kẻ nghèo càng nghèo ("ao cạn"), khiến người lao động nhỏ bé ("cò con") khốn khổ. Câu ca dao không nói thẳng ai, nhưng người nghe hiểu đó là sự bất công xã hội.

Tú Xương mượn hình ảnh con cò của ca dao ở đâu?

Trong bài "Thương vợ", Trần Tế Xương viết "Lặn lội thân cò khi quãng vắng" để nói về bà Tú buôn bán vất vả nuôi chồng con. Câu thơ mượn chữ "lặn lội" và "thân cò" của ca dao "Cái cò lặn lội bờ sông".

"Cò bay thẳng cánh" nghĩa là gì?

Đây là cách nói tả cánh đồng rộng mênh mông, cò bay mãi theo một hướng mà không hết đồng. Câu ca dao "Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh / Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm" dùng hình ảnh này để ca ngợi sự trù phú của đất phương Nam.

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói

Bài viết liên quan

Mở app Lời Nói

Ca dao, tục ngữ còn khuyết chữ — điền cho trọn

Mở app Lời Nói Xem app khác