Muốn làm thơ lục bát, người mới chỉ cần nhớ ba việc: chữ 2, 4, 6 câu sáu là bằng – trắc – bằng, chữ 2, 4, 6, 8 câu tám là bằng – trắc – bằng – bằng; chữ cuối câu sáu vần với chữ thứ sáu câu tám; và chữ cuối câu tám lại vần với chữ cuối câu sáu tiếp theo. Sau đó là tập tránh vài lỗi hay gặp: lạc vần, đặt thanh bằng ở chữ thứ tư, ép vần bằng chữ vô nghĩa. Tất cả câu thơ ví dụ trong bài này đều là câu tự đặt để minh hoạ, không phải ca dao.
Bước 0: thuộc vài chục câu lục bát hay
Trước khi đặt câu, hãy đọc to và thuộc chừng vài chục cặp lục bát: ca dao quen, vài đoạn Truyện Kiều. Tai sẽ quen với nhạc của thể thơ, và nhiều khi chỉ cần đọc lên là biết câu mình viết có "xuôi" không, trước cả khi đếm thanh.
Trèo lên cây khế nửa ngày,
Ai làm chua xót lòng này khế ơi.
(ca dao)
Đọc chậm câu này sẽ thấy nhịp chẵn 2/2/2: "Trèo lên / cây khế / nửa ngày", và tiếng "ngày" ngân sang "này" rất tự nhiên.
Bước 1: nắm luật trong một bảng
| Chữ thứ | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Câu sáu | - | B | - | T | - | B, vần | ||
| Câu tám | - | B | - | T | - | B, vần với câu sáu | - | B, vần với câu sáu kế |
B là thanh bằng (không dấu, dấu huyền). T là thanh trắc (sắc, hỏi, ngã, nặng). Dấu gạch là chữ tự do, đặt thanh gì cũng được.
Bước 2: viết thử một cặp và kiểm từng chữ
Ví dụ, muốn tả một buổi sáng mưa ở quê:
Sáng nay ra ngõ đón mưa,
Hàng cau trước cửa đung đưa lá vàng.
(câu tự đặt để minh hoạ)
Kiểm câu sáu: chữ 2 "nay" (bằng), chữ 4 "ngõ" (trắc), chữ 6 "mưa" (bằng). Đúng.
Kiểm câu tám: chữ 2 "cau" (bằng), chữ 4 "cửa" (trắc), chữ 6 "đưa" (bằng), chữ 8 "vàng" (bằng). Đúng. Chữ 6 "đưa" thanh ngang, chữ 8 "vàng" thanh huyền, khác nhau, đọc lên có độ trầm bổng.
Kiểm vần: "mưa" vần với "đưa". Đúng.
Bước 3: nối sang cặp sau
Chữ cuối câu tám là "vàng", nên câu sáu tiếp theo phải kết bằng một chữ vần với "vàng": làng, sang, hàng, ngang, mang…
Mẹ về từ phía cuối làng,
Nón nghiêng che vội gánh hàng chợ trưa.
(câu tự đặt để minh hoạ)
"vàng" vần với "làng"; "làng" vần với "hàng" ở chữ 6 câu tám; chữ 8 "trưa" lại mở vần cho cặp sau. Kiểm thanh: "về" (B), "phía" (T), "làng" (B); "nghiêng" (B), "vội" (T), "hàng" (B), "trưa" (B). Đúng cả. Bốn câu đã thành một đoạn có cảnh, có người.
Năm lỗi hay gặp và cách sửa
Lỗi 1: lạc vần
Sáng nay ra ngõ đón mưa,
Hàng cau trước cửa rung rinh lá vàng.
(câu sai, tự đặt để minh hoạ)
Chữ 6 câu tám là "rinh", không vần với "mưa". Câu đọc lên hụt hẫng. Sửa: tìm một chữ vần "ưa" ở vị trí 6: đưa, thưa, xưa, lưa thưa.
Lỗi 2: thanh bằng ở chữ thứ tư
Sáng nay ra đường đón mưa.
(câu sai, tự đặt để minh hoạ)
Chữ 4 "đường" là thanh bằng, trong khi luật đòi trắc. Câu nghe phẳng, mất điểm gãy giữa câu. Sửa: "ra ngõ", "ra cửa".
Lưu ý: ca dao có câu lệch ở chữ 4, như "Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao", vì vần dời lên chữ 4. Đó là biến thể có chủ ý của dân gian. Người mới nên viết đúng luật chuẩn trước, khi đã vững hãy thử biến thể.
Lỗi 3: ép vần bằng chữ vô nghĩa
Mẹ về từ phía cuối làng,
Nón nghiêng che vội gánh vàng chợ trưa.
(câu sai, tự đặt để minh hoạ)
"Gánh vàng" không có nghĩa trong cảnh này, chỉ được nhét vào cho đủ vần với "làng". Người đọc nhận ra ngay. Sửa: tìm chữ vần đúng nghĩa ("gánh hàng"), hoặc đổi cả câu sáu để có vần dễ hơn.
Lỗi 4: trùng vần
Sáng nay ra ngõ đón mưa,
Hàng cau trước cửa trong mưa lá vàng.
(câu yếu, tự đặt để minh hoạ)
Dùng lại đúng chữ "mưa" để vần với "mưa" không sai luật, nhưng nghèo. Ca dao và Truyện Kiều hầu như luôn vần bằng hai chữ khác nhau.
Lỗi 5: chữ 6 và chữ 8 câu tám cùng một thanh
Hàng cau trước cửa đung đưa lá xanh.
(câu yếu, tự đặt để minh hoạ)
"đưa" và "xanh" đều thanh ngang. Không sai luật, nhưng đọc lên đều đều. Thơ hay thường để một chữ thanh huyền, một chữ thanh ngang. Sửa: "lá vàng".
Mẹo để câu thơ có hồn
- Viết câu tám trước: câu tám thường chứa ý chính, ý bất ngờ. Có câu tám hay rồi, viết câu sáu dẫn vào sẽ dễ hơn.
- Tả cụ thể: ca dao hay vì có hình ảnh: con cò, cây khế, giếng làng, tấm lụa đào. "Hàng cau đung đưa" hay hơn "cảnh vật đẹp tươi".
- Đổi nhịp đúng lúc: sau vài cặp nhịp 2/2/2, thử một câu ngắt 3/3: "Mưa đầu ngõ, nắng cuối sân" (câu tự đặt để minh hoạ). Đổi nhịp giống người kể chuyện dừng lại một nhịp.
- Dùng từ láy: "đung đưa", "lất phất", "lặng lẽ" làm câu có tiếng, có hình.
- Đọc to mọi câu: nếu chính mình đọc thấy vấp, người khác cũng sẽ vấp.
- Bớt chữ Hán Việt: lục bát là giọng tâm tình. Nhiều chữ Hán Việt quá sẽ làm câu cứng, trừ khi cố ý tạo giọng trang trọng.
Bảng tra vần nhanh
Khi bí vần, có thể nghĩ theo "họ vần". Dưới đây là vài họ vần bằng hay dùng:
| Họ vần | Chữ ví dụ |
|---|---|
| -ang / -àng | làng, sang, vàng, hàng, ngang, mang, đàng |
| -ưa / -ừa | mưa, đưa, xưa, thưa, vừa, lừa |
| -ây / -ầy | mây, đây, cây, bầy, đầy, thầy |
| -ông / -ồng | sông, không, đồng, chồng, hồng, trông |
| -au / -âu | nhau, sau, cau, đâu, sâu, dâu (vần thông) |
| -oa / -òa | hoa, xa, ta, là, nhà, qua (vần thông với -a) |
Vần thông là hai vần gần nhau, như "au – âu", "a – oa". Ca dao dùng vần thông rất tự nhiên.
Bài tập cho người mới
- Chép tay mười cặp ca dao, gạch dưới chữ 2, 4, 6, 8 và ghi B hay T bên trên.
- Lấy một cặp ca dao, thay câu tám bằng câu của mình, giữ đúng vần.
- Viết bốn câu (hai cặp) tả một cảnh quen: sân nhà, bến xe, góc chợ. Kiểm luật từng chữ.
- Đưa cho một người khác đọc to. Ghi lại chỗ họ vấp, sửa đúng chỗ đó.
- Khi đã vững luật chuẩn, thử một câu biến thể: vần dời lên chữ 4 câu tám. Xem bài "Lục bát biến thể trong ca dao" để có mẫu.
Khi đăng thơ của mình
Câu lục bát mình tự đặt là thơ của mình, dù viết theo giọng ca dao. Hãy ký tên mình hoặc ghi "thơ tự sáng tác", đừng gắn nhãn "ca dao" hay "ông bà ta nói". Kho ca dao thật sẽ được giữ sạch, và người đọc biết đang đọc thơ của ai.
Câu hỏi thường gặp
Làm thơ lục bát cần nhớ luật gì?
Chữ 2, 4, 6 câu sáu là bằng – trắc – bằng; chữ 2, 4, 6, 8 câu tám là bằng – trắc – bằng – bằng. Chữ cuối câu sáu vần với chữ 6 câu tám, chữ cuối câu tám vần với chữ cuối câu sáu tiếp theo. Các chữ 1, 3, 5 tự do.
Lỗi hay gặp nhất khi làm lục bát là gì?
Hay gặp nhất là lạc vần (chữ 6 câu tám không vần với câu sáu), đặt thanh bằng ở chữ thứ tư, và ép vần bằng chữ vô nghĩa. Ngoài ra là trùng vần và để chữ 6, chữ 8 câu tám cùng thanh khiến câu đều đều.
Gieo vần lục bát thế nào cho dễ?
Nghĩ theo họ vần, như "-ang" (làng, sang, vàng), "-ưa" (mưa, đưa, xưa). Nhiều người viết câu tám trước để giữ ý chính, rồi mới viết câu sáu có chữ cuối vần với chữ 6 câu tám.
Lục bát có được ngắt nhịp 3/3 không?
Được. Nhịp phổ biến là 2/2/2, nhưng câu sáu ngắt 3/3 và câu tám ngắt 4/4 rất hay gặp, thường kèm tiểu đối. Đổi nhịp đúng lúc giúp câu thơ có điểm nhấn.
Thơ lục bát mình viết có được gọi là ca dao không?
Không nên. Ca dao là thơ dân gian truyền miệng, không rõ tác giả. Thơ mình viết theo giọng ca dao vẫn là thơ có tác giả, nên ký tên hoặc ghi "tự sáng tác".