Ca dao xứ Quảng là lời của vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng, nơi có sông Thu Bồn, phố cổ Hội An và năm ngọn Ngũ Hành Sơn. Những câu được nhắc nhiều nhất là "Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm / Rượu hồng đào chưa nhấm đà say", "Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng" và câu nói vui "Quảng Nam hay cãi". Ca dao xứ Quảng ít tả cảnh mà hay nói về người: tình nồng hậu, tính thẳng, ham lý lẽ, và nỗi nhớ của người đi xa.
Xứ Quảng là đâu
Từ thời các chúa Nguyễn, đất Quảng Nam là một dinh quan trọng, có thương cảng Hội An buôn bán với thuyền buôn Nhật Bản, Trung Hoa và châu Âu. Trong văn hoá dân gian, "xứ Quảng" thường chỉ vùng Quảng Nam và Đà Nẵng; có lúc người ta nói rộng ra cả Quảng Ngãi. Từ ngày 1/7/2025, tỉnh Quảng Nam nhập vào thành phố Đà Nẵng, nên khi nói hành chính hiện nay, các địa danh trong ca dao xứ Quảng đều thuộc Đà Nẵng.
Giọng Quảng có cách phát âm riêng rất dễ nhận ra, nhiều vần bị đọc khác hẳn giọng Huế ở phía bắc. Vì vậy, có những câu ca dao xứ Quảng phải đọc bằng giọng Quảng mới thấy vần.
Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Đây là câu ca dao người Quảng dùng nhiều nhất khi nói về quê mình. "Đà" là đã. Hai câu là hai hình ảnh song song: đất chưa có mưa mà đã thấm, rượu chưa uống mà đã say.
Hai cách hiểu
- Tình người: người Quảng nồng hậu đến mức khách chưa kịp làm gì đã thấy thấm tình. Đây là cách hiểu phổ biến khi câu được dùng để mời, để khen đất khen người.
- Tình đôi lứa: trong lời hát giao duyên, câu này là lời người con trai hay con gái nói rằng mới gặp đã cảm, chưa ngỏ lời đã thương.
Hình ảnh "rượu hồng đào" ở đây là hình ảnh so sánh, nói đến cái say của tình cảm chứ không phải lời khen rượu. Câu ca khéo ở chỗ dùng một hiện tượng ngược thường lý, đất không mưa mà thấm, để nói một điều rất thường: tình cảm đến trước lời nói.
Hòn Kẽm Đá Dừng và nỗi nhớ cha mẹ
Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng
Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi
Hòn Kẽm Đá Dừng là đoạn sông Thu Bồn chảy qua hẻm núi ở thượng nguồn, hai bên vách đá dựng đứng. Người đi thuyền ngược sông, đến đây ngước nhìn lên là thấy núi chắn trước mặt, quê nhà ở phía sau.
- Ngó: nhìn, trông. Từ quen ở miền Trung.
- Bậu: em, cách gọi người thương hoặc người vợ ở miền Trung và miền Nam. Hệ xưng hô "bậu – qua" được giải thích trong danh mục Từ cổ trong ca dao.
- Quá chừng: lắm, hết mức.
Câu ca thường được hiểu là lời người con gái lấy chồng xa, theo thuyền ngược nguồn, nhìn núi mà nhớ cha mẹ. Cũng có người đọc như lời người đi làm ăn xa trên vùng thượng nguồn Thu Bồn. Điều đáng chú ý là câu ca đặt nỗi nhớ vào một địa điểm có thật trên dòng sông, khiến Hòn Kẽm Đá Dừng trở thành một địa danh của nỗi nhớ.
Sông Thu Bồn và Hội An
Sông Thu Bồn chảy từ vùng núi phía tây xuống đồng bằng rồi ra biển ở Cửa Đại, ngay cạnh Hội An. Hội An là thương cảng sầm uất thế kỷ 16–18, nơi thương nhân Nhật Bản, người Hoa và người phương Tây đến buôn bán theo mùa gió. Năm 1999, phố cổ Hội An được UNESCO ghi danh là di sản văn hoá thế giới, cùng năm với khu đền tháp Mỹ Sơn ở thượng lưu sông Thu Bồn.
Điều thú vị là trong các tuyển tập ca dao lớn, những câu nói riêng về phố Hội không nhiều và không nổi tiếng toàn quốc như ca dao Huế hay Hà Nội. Đời sống phố cảng đi vào lời ca qua những lối hát khác của vùng này:
- Hát bài chòi: lối hát gắn với hội bài chòi dịp Tết ở các làng ven biển miền Trung. Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ được UNESCO ghi danh năm 2017, trải từ Quảng Bình đến Khánh Hoà. Lời bài chòi phần lớn là lục bát, có nhiều câu ca dao địa phương.
- Hát bả trạo: lối hát trong lễ cầu ngư của làng biển, người hát vừa làm động tác chèo thuyền vừa hát. Lời bả trạo nói về nghề biển, về sóng gió, về ơn cá Ông.
Một lời khuyên khi tìm ca dao Hội An trên mạng: nhiều câu được giới thiệu là "ca dao Hội An" thực ra là lời bài hát hay thơ có tác giả, viết trong thế kỷ 20 để quảng bá du lịch. Muốn chắc, hãy đối chiếu với các tuyển tập lớn hoặc các công trình sưu tầm văn học dân gian Quảng Nam.
Quảng Nam hay cãi: câu nói vui về tính người
Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co
Bình Định hay lo, Thừa Thiên ních hết
Đây là câu nói dân gian rất quen ở miền Trung, có nhiều cách chép xê dịch. Câu nói đùa về bốn vùng: người Quảng Nam thích lý sự, bàn cãi; người Quảng Ngãi hay co kéo, tằn tiện; người Bình Định hay lo xa; còn người Huế thì "ních hết", tức ăn hết.
Nên đọc câu này như một câu đùa giữa các vùng láng giềng, kiểu người ta trêu nhau trong bữa rượu, không phải một nhận định về tính cách. Riêng chữ "hay cãi" của người Quảng, chính người Quảng thường hiểu theo nghĩa tốt: ham lý lẽ, không chịu điều trái, thích tranh luận cho ra lẽ.
Gắn với tiếng ham lý lẽ là tiếng hiếu học. Khoa thi Hội năm 1898, Quảng Nam có năm người cùng đỗ, được người đương thời ví là "Ngũ phụng tề phi", năm con phượng cùng bay. Ca dao xứ Quảng cũng ghi chuyện học trò đi thi:
Học trò xứ Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế chân đi không đành
Học trò từ Quảng Nam ra kinh đô Huế dự thi, gặp con gái Huế thì bịn rịn không muốn đi. Câu ca dí dỏm, nhẹ nhàng, cho thấy mối giao lưu thường xuyên giữa xứ Quảng và kinh đô.
Ngũ Hành Sơn và các làng nghề
Ngũ Hành Sơn là cụm năm ngọn núi đá vôi nằm gần biển, mang tên năm hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Trong núi có nhiều hang động và chùa. Dưới chân núi là làng đá mỹ nghệ Non Nước, nơi thợ đá chạm tượng, đồ thờ từ đá núi. Gần Hội An còn có làng mộc Kim Bồng, làng gốm Thanh Hà, làng rau Trà Quế.
Các làng nghề này có mặt trong lời ca địa phương, nhưng ca dao về chúng ít được in trong các tuyển tập toàn quốc. Đây là chỗ trống mà người đọc tò mò có thể tự lấp bằng cách tìm các công trình sưu tầm của địa phương, hoặc hỏi chuyện các nghệ nhân lớn tuổi trong làng.
| Câu ca, câu nói | Gắn với | Nét chính |
|---|---|---|
| Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm… | Người Quảng nói chung | Tình nồng hậu, đến trước lời nói |
| Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng… | Thượng nguồn Thu Bồn | Nỗi nhớ cha mẹ của người đi xa |
| Quảng Nam hay cãi… | Bốn vùng miền Trung | Câu đùa giữa các vùng láng giềng |
| Học trò xứ Quảng ra thi… | Quảng Nam và Huế | Học trò đi thi, giao lưu hai vùng |
Góc nhìn hôm nay
Người muốn hiểu ca dao xứ Quảng nên đi ngược sông Thu Bồn: từ Cửa Đại qua Hội An, lên vùng Mỹ Sơn, rồi lên thượng nguồn nơi có Hòn Kẽm Đá Dừng. Đi như thế sẽ thấy các câu ca không phải lời chung chung mà gắn với từng khúc sông. Vào dịp Tết, ở Hội An và nhiều làng ven biển có tổ chức hội bài chòi, nơi có thể nghe lời ca dao được hô lên trong không khí hội làng.
Về sách, nên đọc các tuyển tập văn học dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng bên cạnh Kho tàng ca dao người Việt. Đọc bằng giọng Quảng, nếu có thể, nhờ một người Quảng đọc giúp, sẽ thấy vần và nhịp mà giọng khác làm mất đi.
Câu hỏi thường gặp
Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm nghĩa là gì?
Câu "Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm / Rượu hồng đào chưa nhấm đà say" nói rằng tình người xứ Quảng nồng hậu, chưa kịp làm gì đã thấm. Trong lời giao duyên, câu này còn là lời tỏ rằng mới gặp đã thương. "Đà" nghĩa là đã.
Hòn Kẽm Đá Dừng ở đâu?
Hòn Kẽm Đá Dừng là đoạn sông Thu Bồn chảy qua hẻm núi ở vùng thượng nguồn, hai bên vách đá dựng đứng. Địa danh này nổi tiếng nhờ câu ca dao "Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng / Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi".
Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co nghĩa là gì?
Đây là câu nói đùa dân gian về bốn vùng miền Trung: Quảng Nam thích lý sự, Quảng Ngãi hay co kéo, Bình Định hay lo, Thừa Thiên ăn hết. Câu nên được hiểu như lời trêu nhau giữa các vùng láng giềng, không phải nhận định về tính cách.
Xứ Quảng nay thuộc tỉnh nào?
Xứ Quảng trong văn hoá dân gian thường chỉ Quảng Nam và Đà Nẵng. Từ ngày 1/7/2025, tỉnh Quảng Nam nhập vào thành phố Đà Nẵng, nên Hội An, sông Thu Bồn và Ngũ Hành Sơn hiện đều thuộc thành phố Đà Nẵng.
Có ca dao nào nói về Hội An không?
Có lời ca địa phương nhắc đến Hội An, nhưng các câu nói riêng về phố Hội không phổ biến trong các tuyển tập ca dao lớn. Nhiều câu lưu hành trên mạng gọi là "ca dao Hội An" thực ra là thơ hay lời bài hát có tác giả. Nên đối chiếu với tuyển tập văn học dân gian Quảng Nam trước khi trích.