"Đường vô xứ Nghệ quanh quanh / Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ" là câu ca dao nổi tiếng nhất về xứ Nghệ, vùng đất nay là hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Câu này có nhiều dị bản, trong đó có bản hát "xứ Huế", nên không thể khẳng định nó sinh ra ở đâu. Bên cạnh đó, ca dao xứ Nghệ còn có những câu về núi Hồng, sông Lam, về thác Vũ Môn, và một kho lời ví, giặm của người lao động.
Đường vô xứ Nghệ: đọc từng chữ
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ
Ai vô xứ Nghệ thì vô
Bản phổ biến có ba dòng, câu cuối bỏ lửng như một lời mời. Có nơi chỉ hát hai dòng đầu. Cấu trúc ba dòng không trọn cặp lục bát là chuyện gặp nhiều trong ca dao, không phải "mất câu".
- Vô: vào. Đây là từ quen ở miền Trung và miền Nam. Người Bắc nói "vào". Chữ "vô" cho thấy câu ca mang giọng phía trong.
- Quanh quanh: đường đi uốn lượn theo chân núi, men theo bờ biển. Từ phía Bắc vào Nghệ An phải qua những dải núi chạy sát biển, con đường thiên lý xưa vòng vèo chứ không thẳng.
- Tranh hoạ đồ: bức tranh vẽ cảnh. "Như tranh hoạ đồ" là lối so sánh quen của ca dao khi khen cảnh đẹp.
Câu cuối "Ai vô xứ Nghệ thì vô" được hiểu theo hai hướng. Hướng thứ nhất: lời mời, ai muốn vào thì cứ vào, đất này đẹp và rộng lòng. Hướng thứ hai: lời thách, đường vào xa và khó, ai dám thì vào. Cả hai cách hiểu đều được người đọc chấp nhận; câu ca để ngỏ, và chính sự để ngỏ ấy làm nó sống lâu.
Dị bản: xứ Nghệ hay xứ Huế
Ở vùng Huế, câu này được hát thành "Đường vô xứ Huế quanh quanh / Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ". Khung câu y hệt, chỉ thay tên đất. Câu hỏi "bản nào có trước" thường được đặt ra, nhưng chưa có tài liệu nào cho phép trả lời chắc chắn.
Hiện tượng này gặp nhiều trong ca dao. Một câu hay được người các vùng mượn lại, thay địa danh của mình vào. "Gió đưa cành trúc la đà" có bản Hà Nội và bản Huế; câu "Đồng Nai gạo trắng nước trong" có bản Cần Thơ. Gặp những trường hợp như vậy, cách trích đúng là ghi bản mình dùng và nói rõ có dị bản, thay vì tranh cãi xem vùng nào "chép lại" của vùng nào.
Núi Hồng, sông Lam
Núi Hồng Lĩnh và sông Lam là hai biểu tượng địa lý của xứ Nghệ. Người Nghệ thường gọi chung quê mình là đất "núi Hồng sông Lam".
Hồng Sơn cao ngất mấy trùng
Lam Giang mấy trượng thuỷ chung bấy nhiêu
Câu ca đo lòng người bằng núi và sông: núi cao bao nhiêu trùng, sông sâu bao nhiêu trượng thì lòng thuỷ chung bấy nhiêu. "Trùng" là lớp, tầng; "trượng" là đơn vị đo chiều dài thời xưa. Phép so sánh lấy cái hữu hình đo cái vô hình là lối quen trong ca dao, ở đây được gắn vào hai địa danh có thật nên thành câu của riêng xứ Nghệ.
Về núi Hồng Lĩnh còn có truyền thuyết chín mươi chín ngọn núi, thiếu một ngọn cho đủ trăm. Đây là truyền thuyết địa phương, thường được kể kèm chuyện đất không đủ "trăm ngọn" nên không có đế vương. Nên kể như một truyền thuyết, không trình bày như một sự thật địa lý.
Bao giờ Ngàn Hống hết cây
Sông Rum hết nước, họ này hết quan
Ngàn Hống là tên Nôm của dãy Hồng Lĩnh. Câu này thường được gắn với dòng họ Nguyễn ở làng Tiên Điền, quê của Nguyễn Du, một dòng họ có nhiều người đỗ đạt, làm quan. Có bản chép "Sông Lam hết nước". Ý câu là lời khen một dòng họ khoa bảng bền lâu như núi sông. Nhưng chính lịch sử dòng họ ấy, với nhiều thăng trầm qua các đời, cho thấy câu ca là lời chúc, lời ca ngợi chứ không phải một lời tiên tri.
Thác Vũ Môn và mùa cá vượt
Mồng bốn cá đi ăn thề
Mồng tám cá về cá vượt Vũ Môn
Câu này gắn với truyền thuyết cá chép vượt thác hoá rồng. Hình ảnh "cá vượt Vũ Môn" vốn có gốc từ điển tích Trung Hoa về Long Môn trên sông Hoàng Hà, nơi cũng được gọi là Vũ Môn, tương truyền do vua Vũ khai thông. Người Việt đã đặt điển tích ấy vào một dòng thác có thật trên đất mình.
Dòng thác ấy ở đâu thì còn tranh cãi. Có ý kiến đặt thác Vũ Môn ở vùng núi phía tây Hà Tĩnh, có ý kiến cho là ở vùng núi Quảng Bình. Cả hai vùng đều có truyền thuyết và lễ hội riêng gắn với tên này. Khi viết, nên nói rõ là còn hai cách xác định, đừng chọn một nơi rồi khẳng định chắc chắn.
Ngày nay, "cá vượt Vũ Môn" thường được dùng như lời chúc đỗ đạt, thi cử thành công. Đó là nghĩa mở rộng từ hình ảnh cá hoá rồng.
Bên ni, bên tê: một câu dài khác thường
Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát
Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông
Thân em như chẽn lúa đòng đòng
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai
Câu ca dao này thường được xếp vào ca dao vùng Bắc Trung Bộ, và nhiều nơi trong vùng nhận là của mình. Hai dòng đầu dài tới mười hai chữ, đảo vị trí "ni" và "tê", "mênh mông" và "bát ngát" để tả cánh đồng rộng đến mức nhìn từ phía nào cũng không thấy bờ. Hai dòng sau trở về lục bát quen thuộc.
"Ni" là này, "tê" là kia, hai từ phương ngữ quen của xứ Nghệ và xứ Huế. Hệ thống "mô, tê, răng, rứa" được giải thích kỹ trong danh mục Từ cổ trong ca dao. Mô típ "Thân em" cũng có bài riêng trong danh mục Lục bát & nghệ thuật ca dao. Ở đây chỉ cần thấy: cánh đồng của xứ Nghệ đi vào ca dao bằng chính giọng nói của người Nghệ.
Ví, giặm và hát phường vải
Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO ghi danh là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2014. Ở đây không bàn làn điệu, chỉ bàn lời.
| Lối hát | Đặc điểm lời | Hoàn cảnh hát |
|---|---|---|
| Ví | Phần lớn là lục bát, lục bát biến thể; lời trữ tình, đối đáp | Khi làm đồng, chèo đò, dệt vải, đi rừng |
| Giặm | Thường dùng câu năm chữ, nhiều khổ nối nhau; lời kể, lời khuyên, lời than | Kể việc làng, việc nhà, kể chuyện |
| Hát phường vải | Lời văn vẻ, nhiều điển cố; có sự tham gia của nho sĩ | Đêm làm nghề dệt, kéo sợi trong phường |
Hát phường vải là lối hát của các phường dệt vải về đêm. Trai làng, có cả các nho sinh, đến hát đối với các cô đang quay sợi, dệt vải. Lời hát vì thế thường văn vẻ, dùng điển tích, khác với lời ví đồng áng mộc mạc. Nguyễn Du có bài thơ "Thác lời trai phường nón", viết dưới giọng một chàng trai trong phường, cho thấy không khí giao duyên của các phường nghề vùng này.
Ngoài ví, giặm, xứ Nghệ còn nổi tiếng về vè, những bài kể việc làng, chê thói xấu, kể chuyện thời sự của làng xã. Định nghĩa vè được trình bày trong danh mục Ca dao, tục ngữ & sưu tập.
Góc nhìn hôm nay
Đọc ca dao xứ Nghệ hay nhất là đọc thành tiếng bằng giọng Nghệ. Nhiều câu khi đọc giọng Bắc mất hẳn vần, vì cách phát âm thanh điệu của vùng này khác. Ai có dịp đến Nghệ An, Hà Tĩnh, có thể tìm nghe các câu lạc bộ ví, giặm ở làng, nơi lời ca còn được hát trong sinh hoạt.
Những điểm có thể đến để hiểu câu ca: núi Hồng Lĩnh và dòng sông Lam ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Nguyễn Du ở Tiên Điền, các làng nghề dệt cũ ven sông Lam. Về sách, ngoài các tuyển tập ca dao chung, nên tìm các công trình sưu tầm văn học dân gian Nghệ Tĩnh, nơi lời ví, giặm được ghi theo từng làng.
Câu hỏi thường gặp
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh có mấy câu?
Bản phổ biến có ba dòng: "Đường vô xứ Nghệ quanh quanh / Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ / Ai vô xứ Nghệ thì vô". Có nơi chỉ hát hai dòng đầu. Câu cuối bỏ lửng là đặc điểm của bản này, không phải bị mất vế.
Đường vô xứ Nghệ hay đường vô xứ Huế mới đúng?
Cả hai đều là dị bản có thật của cùng một khung câu. Người xứ Nghệ hát "xứ Nghệ", người vùng Huế hát "xứ Huế". Chưa có tài liệu nào xác định bản nào có trước, nên không nên gọi bản nào là sai.
Thác Vũ Môn ở đâu?
Còn có hai cách xác định: một cho rằng thác Vũ Môn ở vùng núi phía tây Hà Tĩnh, một cho rằng ở vùng núi Quảng Bình. Tên Vũ Môn và tích cá chép hoá rồng vốn có gốc từ điển tích Long Môn của Trung Hoa, được người Việt gắn vào một dòng thác trên đất mình.
Ngàn Hống là gì?
Ngàn Hống là tên Nôm của dãy núi Hồng Lĩnh ở Hà Tĩnh. Câu "Bao giờ Ngàn Hống hết cây / Sông Rum hết nước, họ này hết quan" thường được gắn với dòng họ Nguyễn ở Tiên Điền, quê Nguyễn Du. Có bản chép "sông Lam" thay cho "sông Rum".
Ví và giặm khác nhau thế nào?
Lời ví phần lớn là lục bát, giọng trữ tình, hay dùng để đối đáp khi làm việc. Lời giặm thường là câu năm chữ nối thành nhiều khổ, thiên về kể chuyện, khuyên răn. Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO ghi danh năm 2014.