"Nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò" là câu nói dân gian xếp học trò đứng thứ ba về độ tinh nghịch, chỉ sau quỷ và ma. Câu vừa chê vừa thương: chê cái nghịch ngợm, phá phách, nhưng cũng ngầm nhận học trò lanh lợi, láu lỉnh, khó ai bắt nạt được. Trong lời nói hằng ngày, câu này gần như luôn được dùng với giọng đùa trìu mến chứ không phải lời kết tội.
Câu nói xếp hạng theo lối "nhất, nhì, thứ ba"
Lối nói "nhất… nhì… thứ ba…" rất quen trong tục ngữ Việt. Người xưa thích xếp thứ bậc để nhấn mạnh, và vị trí đứng sau cùng thường là chỗ người nói muốn người nghe chú ý nhất. Mấy câu cùng khuôn:
- Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ. Câu đặt thứ bậc rồi tự đảo ngược: lúc no đủ thì kẻ sĩ đứng đầu, lúc hết gạo thì người làm ruộng mới là nhất.
- Nhất thì nhì thục. "Thì" là thời, lúc còn trẻ, gặp thời; "thục" là thành thạo, thuần thục. Câu nói tuổi trẻ và thời cơ quý hơn cả tay nghề.
- Nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò. Ba hạng được đem ra so là quỷ, ma và học trò.
Trong khuôn ấy, đặt học trò cạnh quỷ và ma là một cách nói quá có chủ ý. Không ai tin học trò ngang hàng với ma quỷ thật. Cái buồn cười nằm ở chỗ đem đám trẻ con đi học xếp cùng bảng với những thứ đáng sợ nhất trong tín ngưỡng dân gian.
Quỷ, ma và học trò trong cái nhìn của người xưa
Trong tín ngưỡng dân gian, ma thường được hiểu là hồn người chết còn vất vưởng, hay trêu người, doạ người. Quỷ dữ hơn, gắn với cõi âm, với những thứ hại người. Quỷ và ma trong truyện cổ hay có chung một nét: khó lường, biến hoá, thoắt ẩn thoắt hiện, bày trò làm người khác điêu đứng.
Học trò xưa là trẻ con và thanh niên theo học chữ Hán ở trường làng, trường thầy đồ, lớn lên thì theo các thầy giỏi hơn để đi thi. Đám trẻ ngồi cả ngày trên chiếu, đọc sách, viết chữ, dễ sinh nghịch: trêu nhau, trêu thầy, trèo cây, tắm sông, ăn vụng quả nhà hàng xóm. Lớn hơn, các nho sinh đi thi lại có tiếng nghịch kiểu khác: chơi chữ, làm câu đối giễu, đặt vè châm chọc.
Đặt cạnh nhau, ba hạng có điểm chung là tinh quái: khó đoán, nhiều mưu mẹo, khiến người lớn mệt. Câu tục ngữ chọn đúng nét chung ấy để nói, chứ không so về độ ác.
Câu chê hay câu khen
Câu này hay bị hỏi lại vì nghe như chê mà người ta lại dùng khi khen. Thật ra có ba cách hiểu, và cả ba đều gặp trong đời sống:
| Cách hiểu | Điều được nhấn | Giọng thường gặp |
|---|---|---|
| Chê | Học trò nghịch ngợm, phá phách, khó dạy | Người lớn than khi lũ trẻ bày trò |
| Khen | Học trò lanh lợi, nhanh trí, nhiều sáng kiến | Thầy cô nói về đứa học trò láu lỉnh mà sáng dạ |
| Trìu mến, đùa | Tuổi học trò là tuổi nghịch, chuyện bình thường | Người lớn nhớ lại thời đi học của chính mình |
Không có cứ liệu cho thấy câu này "ban đầu" là khen hay chê. Trên mạng có những bài khẳng định nghĩa gốc của câu là để khen trí thông minh của học trò, hoặc để chê thói hư của nho sinh xưa. Những khẳng định ấy chưa thấy dựa vào tuyển tập hay sách khảo cứu nào. Cách đọc an toàn là: câu nói một nét tính cách có hai mặt, nghịch và lanh, và người dùng chọn mặt nào tuỳ giọng.
Chứng cứ rõ nhất cho giọng đùa là cách người ta dùng câu này ngày nay: thầy cô kể chuyện lớp học, cha mẹ kể chuyện con, người lớn ôn lại kỷ niệm. Hiếm ai dùng câu này để kết tội nặng nề một đứa trẻ.
Học trò nghịch trong giai thoại và truyện dân gian
Văn học dân gian Việt có cả một kho chuyện về những đứa trẻ đi học tinh nghịch mà thông minh. Cần phân biệt rõ: đây là giai thoại, truyện kể, không phải sử liệu.
- Trạng Quỳnh. Truyện Trạng Quỳnh là tập truyện cười dân gian kể về một người học trò, rồi một ông quan, chuyên dùng mẹo và chơi chữ để chọc quan lại, chúa. Nhân vật được gắn với Nguyễn Quỳnh, người Thanh Hoá sống khoảng cuối thế kỷ 17 – đầu thế kỷ 18, nhưng phần lớn truyện là do dân gian thêm thắt qua nhiều đời.
- Giai thoại về Lê Quý Đôn thuở nhỏ. Có nhiều chuyện kể Lê Quý Đôn lúc bé nghịch ngợm mà ứng đối rất nhanh, bị người lớn bắt làm thơ thì làm ngay. Các chuyện này lưu truyền rộng nhưng là giai thoại, không có trong chính sử.
- Chuyện học trò trêu thầy đồ. Văn học dân gian có nhiều mẩu chuyện cười về học trò đối đáp lại thầy đồ hay thầy đồ dốt. Các chuyện này cho thấy hình ảnh học trò láu cá đã thành một kiểu nhân vật quen.
Những chuyện ấy giúp hiểu vì sao câu "thứ ba học trò" dễ được dân gian chấp nhận: trong trí tưởng tượng chung, học trò là người có chữ, có mẹo, dám cãi lý. Nghịch và giỏi đi cùng nhau.
Những câu khác về học trò trong kho lời dân gian
Đặt "nhất quỷ nhì ma" cạnh những câu khác về việc học sẽ thấy dân gian không chỉ có một cái nhìn về học trò:
- Không thầy đố mày làm nên. Đề cao vai trò người thầy.
- Học thầy không tày học bạn. Bạn bè cùng học cũng dạy được nhiều điều.
- Tiên học lễ, hậu học văn. Câu Hán Việt: học lễ nghĩa trước, học chữ sau. Câu này đứng đối diện với hình ảnh học trò nghịch ngợm: học trò nghịch nhưng phải được dạy lễ.
- Nhất tự vi sư, bán tự vi sư. Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.
Kho tục ngữ vì thế vừa trọng học trò, vừa trêu học trò. Câu "nhất quỷ nhì ma" thuộc về phía trêu, và chính vì có phía trọng đứng bên cạnh mà phía trêu không thành xúc phạm.
Góc nhìn hôm nay: đùa được, dán nhãn thì không
Câu này ngày nay vẫn sống khoẻ, nhất là trong trường học. Thầy cô dùng nó khi kể về một lớp nghịch, phụ huynh dùng khi nói về con. Dùng như một câu đùa thì vô hại. Điều nên tránh là dùng nó để dán nhãn một đứa trẻ cụ thể trước mặt bạn bè, vì trẻ con dễ tin vào cái nhãn mình bị gán.
Đọc câu này đúng tinh thần thì có một bài học dễ chịu: tuổi đi học là tuổi tò mò, thử ranh giới, đôi khi quá đà. Người xưa thấy thế, gọi tên nó bằng một câu nói vui, rồi vẫn kiên nhẫn dạy. Đó cũng là cách nhìn mà người lớn hôm nay có thể giữ: biết trẻ nghịch là chuyện thường, và cái nghịch ấy nhiều khi đi kèm sự nhanh trí đáng quý.
Ai muốn đọc thêm về đời sống học trò xưa có thể tìm các sách viết về giáo dục và khoa cử thời phong kiến, hoặc ghé Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở Hà Nội để xem các bia tiến sĩ, nơi ghi tên những người học trò đã đỗ đạt. Còn kho truyện về học trò tinh nghịch thì nằm trong các tuyển tập truyện cười và giai thoại dân gian.
Câu hỏi thường gặp
Nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò nghĩa là gì?
Câu nói vui xếp học trò đứng thứ ba về độ tinh nghịch, chỉ sau quỷ và ma. Ý câu là học trò hay bày trò, lanh lợi, khó bảo. Câu thường dùng với giọng đùa trìu mến chứ không nhằm chê nặng.
Câu nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò là khen hay chê?
Câu có cả hai sắc thái: chê sự nghịch ngợm và ngầm khen sự nhanh trí. Không có cứ liệu cho thấy câu này ban đầu chỉ mang một nghĩa. Ngày nay người ta dùng nó chủ yếu để đùa vui về tuổi học trò.
Vì sao học trò lại bị so với quỷ và ma?
Ba hạng có chung nét tinh quái, nhiều mẹo, khó lường. Đây là cách nói quá cố ý để gây cười, đặt đám trẻ đi học cạnh những thứ đáng sợ nhất trong tín ngưỡng dân gian. Không ai hiểu câu này theo nghĩa đen.
Câu nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò có vế sau không?
Trong các tuyển tập phổ biến, câu này thường chỉ gồm một vế như trên. Nếu gặp bản kéo dài thêm vế trên mạng, nên kiểm lại trong sách tục ngữ trước khi tin đó là lời dân gian.
Có nên dùng câu này khi nói về con em mình?
Dùng như một câu đùa chung về tuổi đi học thì không sao. Nên tránh gắn câu này lên một đứa trẻ cụ thể trước đông người, vì dễ thành cái nhãn khiến trẻ tự ti hoặc nghĩ mình chỉ biết nghịch.